Chùa Kyaiktiyo, kỳ quan huyền bí của Phật giáo Myanmar

Chùa Kyaiktiyo (còn gọi là chùa Đá Vàng) là một trong 3 điểm hành hương nổi tiếng nhất ở Myanmar (hai điểm kia là chùa Shwedagon và chùa Mahamuni). Chùa Kyaiktiyo chỉ là một ngôi chùa nhỏ, cao 7,3m, tọa lạc trên đỉnh của một tảng đá lớn được phủ bởi các miếng vàng lá do khách hành hương dán lên khi mỗi đến viếng thăm chùa. Cả ngôi chùa và tảng đá đều nằm cheo leo trên đỉnh của ngọn núi Kyaiktiyo. Núi Kyaiktiyo có độ cao là 1.100m so với mực nước biển, nằm gần thị trấn Kyaiktiyo, quận Thaton, tỉnh Mon, Myanmar.
Theo truyền thuyết, trong một lần đến thăm Myanmar, Đức Phật đã tặng một sợi tóc của  mình cho vị ẩn sĩ tên là Taik Tha. Vị ẩn sĩ này đã giữ gìn sợi tóc của Phật rất cẩn thận. Trước khi qua đời, ông trao sợi tóc lại cho người con nuôi là vua Tissa, vị vua cai trị Myanmar vào thế kỷ thứ XI, với lời trăn trối: Hãy cất giữ xá lợi ấy trong một hòn đá có hình dáng như đầu của vị ẩn sĩ. Vâng lời cha và nhờ sự giúp đỡ của các thần linh, vua Tissa đã tìm thấy tảng đá vàng nằm trên đỉnh núi Kyaiktiyo, và vua đã xây một ngôi chùa trên đỉnh của tảng đá để tôn thờ xá lợi Phật. Người ta tin rằng, chính nhờ có sợi tóc của Đức Phật mà tảng đá này vẫn nằm yên bất động trong một vị thế hết sức cheo leo qua hàng mấy thiên niên kỷ. Tảng đá cheo leo ấy như thách thức trước lực hút của trái đất và trước quy luật thăng bằng của tự nhiên, như thể là có một năng lực siêu nhiên nào đó đang chống đỡ, đang giữ thăng bằng cho tảng đá. Chính vì điều này mà người ta đã gọi tảng đá này là “Tảng Đá Thiêng” và tất cả mọi khách hành hương mỗi khi đến thăm chùa Kyaiktiyo đều phủ phục kính lễ trước tảng đá thiêng liêng này.
Khoảng thời gian kỳ ảo nhất trên đỉnh núi là lúc ánh tà dương sắp tắt và lúc ánh bình minh vừa ló dạng. Những lúc ấy, ánh mặt trời rực rỡ chiếu vào tảng đá, tạo nên một không gian tâm linh vô cùng huyền ảo và thiêng liêng. Những lúc ấy cũng là lúc mà rất nhiều người đến cầu nguyên và kính lễ xung quanh tảng đá thiêng. Từ chân núi Kyaiktiyo có những con đường khác nhau dẫn lên chùa Kyaiktiyo. Lên gần đến đỉnh núi thì có hình hai con sư tử lớn án ngự hai bên lối đi vào chùa. Từ vị trí này, tất cả các du khách, tín đồ Phật tử đều phải cởi giáy dép và leo bộ lên núi bẳng đôi chân trần. Theo truyền thống của Phật giáo Myanamr, chỉ có người nam mới được phép đến gần khu vực tảng đá vàng để có thể chạm vào tảng đá hoặc dát những lá vàng miếng lên tảng đá, hoặc áp đầu vào tảng đá và cầu nguyện. Còn người nữ thì không được đi vào khu vực tảng đá vàng, nên họ chỉ có thể lặng lẽ dâng vật cúng lên các bàn thờ rồi đứng từ xa để chiêm ngưỡng, kính lễ và cầu nguyện.
Ngày nay, chùa Kyaiktiyo không chỉ điểm hành hương nổi tiếng của tín đồ Phật giáo ở tỉnh Mon, Myanmar, mà còn là điểm đến quan trọng trong lộ trình hành hương của du khách trong nước cũng như quốc tế. Chùa Kyaiktiyo ngày càng trở nên hấp dẫn đối với khách hành hương, du lịch. Và tảng đá thiêng càng trở nên kỳ bí hơn đối với khách thập phương.

Quảng Trí
(Nguồn: Tuần báo Giác Ngộ số 637, ra ngày 14-4-2012)


Đức Dalai Lama được trao giải thưởng Templeton 2012


Đức Dalai Lama, vị lãnh đạo tinh thần tối cao của Phật giáo Tây Tạng, đã từng tham gia vào nhiều khía cạnh khác nhau của khoa học và xã hội. Những đóng góp và sự tham gia ấy vượt xa ngoài truyền thống tôn giáo của Ngài. Chính điều này mà Ngài trở thành tiếng nói quốc tế về những vấn đề đạo đức toàn cầu, bất bạo động, và sự hòa hợp giữa các tôn giáo trên thế giới mà không một ai có thể so sánh được. Cũng chính vì thế mà năm nay, Quỹ John  Templeton đã quyết định trao giải thưởng cao quý của mình cho Ngài Dalai Lama.
Giải thưởng Templeton do nhà đầu tư toàn cầu và nhà từ thiện John Templeton thành lập vào năm 1972. Giải thưởng là nền tảng của những nỗ lực quốc tế của Quỹ John Templeton nhằm phục vụ như là một chất xúc tác từ thiện cho những khám phá liên quan đến các câu hỏi lớn của mục đích con người và thực tại tối hậu.
Giá trị tiền mặt của giải thưởng được thiết lập luôn luôn vượt quá Giải thưởng Nobel nhằm nhấn mạnh rằng, lợi ích từ những khám phá làm sáng tỏ những nghi vấn tâm linh có thể lớn hơn về mặt định lượng so với những khám phá từ những sự nỗ lực đáng giá khác của con người.
Trong nhiều thập kỷ, Đức Dalai Lama thứ 14, Tenzin Gyatso, 76 tuổi, đã mạnh mẽ tập trung vào những sự liên kết giữa các truyền thống nghiên cứu của khoa học và Phật giáo, xem đấy như là một cách tốt hơn để hiểu và nâng cao những giá trị mà cả Phật giáo và khoa học có thể đóng góp cho thế giới.
Cụ thể, Ngài khuyến khích việc xem xét và kiểm nghiệm một cách khoa học và nghiêm túc về sức mạnh của lòng từ bi và tiềm năng rộng lớn của nó để hướng đến việc giải quyết vấn đề cơ bản của thế giới.
Trong quá trình nghiêm cứu đó, Ngài đặt ra những câu hỏi lớn, chẳng hạn như: Có thể huấn luyện hay giảng dạy về lòng từ bi cho con người không? Những câu hỏi ấy phản ánh sự quan tâm sâu sắc của người sáng lập giải thưởng Templeton, ông John Templeton, trong việc tìm kiếm phương thức để có thể sử dụng các phương pháp khoa học vào nghiên cứu những lời khẳng định thuộc về tâm linh, để rồi từ đó có thể thúc đẩy sự tiến bộ tâm linh mà giải thưởng Templeton đã công nhận trong 40 năm qua.
Văn phòng giải thưởng Templeton của Quỹ John Templeton ở West Conshohocken, bang Pennsylvania, Hoa Kỳ đã chính thức thông báo về việc trao giải thưởng Templeton đến Ngài Dalai Lama vào sáng ngày 30-3-2012 trên trang web www.templetonprize.org, và thông báo qua email đến các nhà báo, và trên trang mạng xã hội Twitter thông qua tên tài khoản @TempletonPrize.
Giải thưởng sẽ được trao đến Đức Dalai Lama trong một buổi lễ tại nhà thờ St. Paul ở London vào chiều thứ Hai, ngày 14-5-2012. Một cuộc họp báo với người đoạt giải thưởng Templeton 2012 sẽ được tổ chức trước khi diễn ra buổi lễ trao giải. Cả hai sự kiện này sẽ được phát trực tiếp tại trang web www.templetonprize.org và trên các phương tiện truyền thông toàn cầu. Những hình ảnh của các sự kiện này cũng được đăng tải trên trang web ấy.
Giải thưởng Templeton trị giá 1,1 triệu bảng Anh (khoảng 1,7 triệu USA). Đây là giải thưởng hàng năm có giá trị tiền mặt lớn nhất trên thế giới, trao cho một cá nhân để vinh danh một người đang sống mà đã có những đóng góp đặc biệt trong việc khẳng định chiều hướng tâm linh của cuộc sống, hoặc thông qua tuệ giác sâu sắc, hay sự khám phá, hoặc là các công việc thực tế.
Trong lời thông báo, người ta đã ca ngợi những cống hiến của Đức Dalai Lama trong việc xây dựng những nhịp cầu của sự tin tưởng phù hợp với lòng mong ước của vô số triệu người trên toàn cầu.
Tiến sĩ John M. Templeton, Chủ tịch Quỹ Templeton John và là con trai của người sáng lập giải thưởng Templeton, phát biểu: “Cùng với xu thế ngày càng phụ thuộc vào những tiến bộ công nghệ để giải quyết các vấn đề của thế giới, nhân loại cũng đang cố gắng có được sự an lòng mà chỉ có sự tìm kiếm tâm linh mới có thể đáp ứng được. Đức Dalai Lama nói lên tiếng nói toàn cầu về lòng từ bi, và lòng từ bi ấy được củng cố bằng tình thương yêu và sự tôn trọng đối với những nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề tâm linh và nghiên cứu đó tập trung vào cá nhân mỗi người”.
Ông John M. Templeton cũng nhấn mạnh rằng, kỷ lục xuất sắc của Ngài Dalai Lama đối với những phát triển tâm linh, đạo đức và trí tuệ được thừa nhận bởi chín vị trong Ban khảo xét của giải thưởng, những người đại diện cho nhiều ngành học, nhiều nền văn hóa và truyền thống tôn giáo khác nhau. Thường thì mỗi năm có từ 15 đến 20 ứng cử viên được đề cử và sau đó mỗi cá nhân nộp hồ sơ riêng biệt. Ban khảo xét của giải thưởng đánh giá độc lập với nhau rồi từ đó tính điểm và quyết định chọn ra một người để trao giải thưởng.
Khi được thông báo là được trao giải thưởng Templeton, Đức Dalai Lama đã phát biểu một cách khiêm tốn rằng: "Khi tôi nghe quý vị quyết định trao giải thưởng khá nổi tiếng này cho tôi, tôi thực sự cảm thấy đây là một dấu hiệu của sự công nhận về những đóng góp nhỏ nhoi của tôi cho nhân loại, chủ yếu là về vấn đề bất bạo động và sự thống nhất giữa các truyền thống tôn giáo khác nhau".
Trong đoạn video ngắn trên trang web của giải thưởng, Đức Dalai Lama đề cập đến các vấn đề quan trọng và Ngài kêu gọi nhân loại hãy nắm lấy lòng từ bi như là một con đường dẫn đến hòa bình, cả ở cấp độ cá nhân và trên quy mô toàn cầu, Ngài nói: "Bạn có thể phát triển cảm giác quan tâm đến hạnh phúc của người khác một cách chân thành, kể cả với kẻ thù của bạn. Lòng từ bi không thiên vị, không giới hạn đó cần đến sự rèn luyện và sự tỉnh giác".
Mục sư Michael Colclough tại nhà thờ St. Paul hoan nghênh sự kiện này thông qua lời phát biểu: "Một tiếng nói không bạo lực của hòa bình và lý trí trong một thế giới thảm họa, Đức Dalai Lama đại diện cho các giá trị cốt lõi được yêu chuộng bởi nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau. Giải thưởng Templeton sẽ được trao đến Đức Dalai Lama dưới mái vòm của nhà thờ St. Paul. Đấy là như một lời nhắc nhở rằng, việc hướng đến hòa bình và hòa hợp là sự thách thức thực tế và thuộc về tâm linh đối với tất cả các cộng đồng tôn giáo".
Đức Dalai Lama không có lạ gì với những danh hiệu và các giải thưởng, với các điểm số đi liền với tên của mình. Năm 1989, Ngài đã được trao giải Nobel Hòa bình bởi cuộc vận động bất bạo động như là con đường giải phóng cho đất nước Tây Tạng. Ngài trở thành người thứ hai vừa nhận giải thưởng Templeton và giải Nobel Hòa bình. Mẹ Teresa đã nhận được giải thưởng Templeton vào năm 1973, sáu năm sau thì bà nhận giải thưởng Nobel.
Trong nhiều nỗ lực, thì sự nỗ lực thành công nhất của Ngài Dalai Lama là việc thành lập Viện Tâm thức và Đời sống (Mind & Life Institute), Ngài đồng sáng lập vào năm 1987, nhằm thiết lập sự hợp tác nghiên cứu giữa khoa học và Phật giáo. Viện tổ chức các hội nghị về những chủ đề như khoa học thiền quán, những xúc cảm tiêu cực và biện pháp chữa trị, ý thức và sự chết... Mặc dù khởi sự với những vấn đề hàn lâm khá trầm lắng, nhưng sau đó thì viện đã phát triển thành những sự kiện quần chúng rất phổ biến.
Năm 2005, sau một loạt các cuộc đối thoại tại Đại học Stanford giữa Đức Dalai Lama và các nhà khoa học trong các lĩnh vực của khoa học thần kinh, tâm lý học, y học…, Đại học Stanford đã trở thành địa điểm của Trung tâm Nghiên cứu, giáo dục lòng từ bi và lòng vị tha. Cuộc đàm luận liên ngành đã thừa nhận rằng, sự phối hợp giữa khoa học nhận thức và thiền quán truyền thống của Phật giáo có thể đóng góp vào sự hiểu biết về tâm thức và cảm xúc của con người. Hiện tại, trung tâm hỗ trợ và tiến hành nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc về tâm từ bi và hành vi của lòng vị tha.
Nhiều trong số các hội thảo ấy đã dẫn đến sự ra đời của những cuốn sách bán chạy nhất do Đức Dalai Lama viết hoặc là do Ngài cùng viết với một số người khác viết, chẳng hạn như Nghệ thuật sống hạnh phúc (The Art of Happiness - 1998), Vũ trụ trong một đơn nguyên tử (The Universe in a Single Atom - 2005), và Đức Dalai Lama tại MIT (The Dalai Lama at MIT - 2006). Cho đến nay, Ngài là tác giả hoặc đồng tác giả của hơn 70 cuốn sách.
Tình yêu khoa học của Đức Dalai Lama cũng được chứng minh trong Chương trình Khoa học dành cho các Tăng sĩ. Chương trình này được xây dựng vào năm 2001 nhằm giảng dạy khoa học tại các trung tâm tu viện Phật giáo nghiên cứu chuyên sâu ở Ấn Độ. Chương trình với sự tham gia của các nhà khoa học Ấn Độ và phương Tây để khám phá những mối liên hệ giữa các truyền thống Phật giáo Tây Tạng và khoa học, và dạy phương pháp nghiên cứu khoa học trong vật lý học, cơ học lượng tử, vũ trụ học, sinh học, khoa học thần kinh và toán học.
Sự cởi mở đối với những ý tưởng mới và những phát minh tiên tiến khiến cho ngài trở thành một thần tượng hiếm hoi trong cố những nhà lãnh đạo được tôn trọng trên thế giới, và cũng đã tạo cho Ngài một vị thế đặc biệt trong lòng những khán thính giả vô thần, không giống như bất kỳ một nhà lãnh đạo tôn giáo nào khác.
Minh Nguyên lược dịch (Theo Templetonprize.org)
(Nguồn: Báo Giác Ngộ, Số 636, ra ngày 07/4/2012)

Nepal: Bảo tháp Boudhanath, điểm du lịch tâm linh lý tưởng tại Kathmandu


Bao tháp Boudhanath lung linh lúc đêm về
Bảo tháp Boudhanath là một trong những công trình kiến trúc Phật giáo quan trọng nhất tại Nepal và là một trong những điểm thu hút khách du lịch lớn nhất tại thung lũng Kathmandu.
Bảo tháp Boudhanath nằm ở vùng ngoại ô thủ đô Kathmandu, thuộc về phía Đông của trung tâm thành phố. Bảo tháp Boudhanath và đỉnh tháp màu trắng cao 36 mét của nó có thể nhìn thấy từ xa.
Tương tự như hầu hết các công trình kiến ​​trúc tôn giáo có từ thời cổ đại khác, các công trình ấy đều được gắn liền với những truyền thuyết ly kỳ, bảo tháp Boudhanath  cũng thế. Theo truyền thuyết, bảo tháp Boudhanath được cho là được xây dựng trên tuyến đường thương mại cổ đại từ Nepal đến Tây Tạng, tại địa điểm mà các thương nhân hay dừng chân để nghỉ ngơi và cầu nguyện. Và truyền thuyết khẳng định rằng, bảo tháp Boudhanath có từ thế kỷ thứ V.
Truyền thuyết liên quan đến sự ra đời của bảo tháp Boudhanath kể lại rằng: Có một người phụ nữ xin vua hiến đất để xây dựng một bảo tháp. Nhà vua hứa sẽ cho cô một khu đất rộng trong phạm vi bao phủ của một tấm da trâu. Và người phụ nữ ấy đã cắt một miếng da trâu thành các sợi mỏng và nối chúng lại với nhau. Rồi dùng sợi dây đó để kéo thành vòng tròn bao lấy một khu đất rộng lớn. Giữ đúng lời hứa, nhà vua đã cấp khu đất đó để xây dựng bảo tháp. Bảo tháp ấy chính là bảo tháp Boudhanath. Và trong tháp đó có chứa hài cốt của một nhà hiền triết.
Ngôi tháp có đường kính trên 100 mét và chiều dài từ bức tường này đến bức tường kia gần bằng chiều dài của một sân bóng đá. Boudhanath là một trong những ngôi tháp lớn nhất thế giới, và chắc chắn nó là ngôi tháp lớn nhất ở Nepal. Ngôi tháp được cấu trúc theo mô hình các hình vuông và hình tròn đan xen nhau, thể hiện mô hình của một mạn-đà-la ba chiều. Mỗi phần của ngôi tháp đều có ý nghĩa biểu trưng nhất định. Ở phần trên của thân tháp có hình đôi mắt của Đức Phật rất lớn, và được vẻ trên cả bốn phía của ngọn tháp. Phần giữa của đôi mắt còn có thêm chữ số “Một” (theo tiếng Nepali), với ý nghĩa biểu tượng cho sự hợp nhất. Phía trên của đôi mắt là hình tượng con mắt thứ ba, biểu trưng cho trí tuệ giác ngộ, trí tuệ nhờ tu tập nội quán mà có được. Bên trên phần thân tháp hình vuông là đỉnh tháp với hình kim tự tháp có mười ba bậc, biểu trưng cho lộ trình tu tập dẫn đến sự giác ngộ, giải thoát. Và trên đỉnh tháp là một mái vòm mạ vàng, bên trên đó là hình chóp nón mạ vàng. Cái lọng ở trên đỉnh tháp là biểu tượng của hoàng gia.
Bảo tháp Boudhanath tại Kathmandu, Nepal
Bao tháp Boudhanath, tranh vẽ của Thubten Yeshe Sherpa
Xung quanh ngôi tháp được giăng rất nhiều dây cờ Phật giáo và những dây cờ cầu nguyện có màu sắc sặc sỡ, với nhiều bài kinh, câu chú được in trên đó.
Viền quanh ngôi tháp còn có 108 hình tượng hóa thân của Bồ-tát Quan Thế Âm, vị Bồ-tát gắn liền với lịch sử của ngôi bảo tháp. Những luân xa cầu nguyện xung quanh ngôi tháp cũng được khắc câu thần chú của Bồ-tát Quan Thế Âm, Om Mani Padme Hum.
Một trong những lễ hội lớn nhất được tổ chức ở Boudhanath là lễ Losar, lễ đón mừng năm mới của người Tây Tạng, thường rơi vào tháng Hai. Vào mùa lễ hội Losar, bảo tháp Boudhanath thường thu hút hàng chục ngàn khách hành hương. Sau năm 1959, nhiều người dân Tây Tạng đã đến định cư ở khu vực xung quanh bảo tháp Boudhanath. Và ngày nay, cộng đồng người Tây Tạng phát triển khá lớn mạnh ở khu vực lân cận bảo tháp Boudhanath tại Kathmandu, cùng với đó là sự phát triển của Phật giáo Tây Tạng, nhiều tu viện và các trung tâm nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng được thành lập. Xung quanh bảo tháp Boudhanath còn có rất nhiều cửa hàng bán những tác phẩm nghệ thuật, đồ trang sức và hàng thủ công mỹ nghệ của Tây Tạng.
Thời điểm tốt nhất trong ngày để thăm bảo tháp Boudhanath là vào lúc hoàng hôn, khi hàng trăm tín đồ đi nhiễu thành vòng tròn theo chiều kim đồng hồ xung quanh bảo tháp, cùng nhau trì chú và quay bánh xe cầu nguyện khi họ đi qua chúng để phát ra những lời cầu nguyện. Nhiều khách hành hương thực hiện sự cung kính theo truyền thống của họ xung quanh ngôi bảo tháp, họ quỳ kính khánh nguyện hoặc lễ lạy sát đất.
Trong nhiều thế kỷ qua, bảo tháp Boudhanath đã trở thành một điểm đến quan trọng trong lộ trình hành hương của người dân Tây Tạng và Nepal. Cùng với khu thánh tích Swayambhunath, Boudhanath là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng nhất tại Kathmandu. Vào năm 1979, Boudhanath đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.
Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế xã hội, sự phát triển của ngành du lịch, bảo tháp Boudhanath ngày càng được nhiều người biết đến và lượng khách đến hành hương, chiêm bái bảo tháp ngày càng tăng lên; không chỉ có người dân địa phương mà lượng khách quốc tế cũng tăng lên đáng kể.
Quảng Trí
(Nguồn: Báo Giác Ngộ, Số 635, ra ngày 31/3/2012)

Ấn Độ: Tỷ phú Subhash Chandra thực tập thiền Vipassana

Ông Subhash Chandra sinh ngày 30-11-1950 tại Hissar, Haryana, Ấn Độ. Ông là người sáng lập Zee TV, kênh truyền hình tư nhân đầu tiên của Ấn Độ. Chandra là người đầu tiên ở Ấn Độ đã tìm cách để khai thác tiềm năng kinh doanh to lớn của các kênh truyền hình vệ tinh và sau đó đã trở thành ông trùm trong lĩnh vực truyền thông ở Ấn Độ. Ông Subhash Chandra là chủ tịch của tập đoàn Essel, một tập đoàn kinh doanh và hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau: truyền thông, công nghệ, giải trí, giáo dục, vận chuyển, xây dựng và từ thiện. Theo thống kê của tạp chí Forbes, trong thời điểm hiện tại, tổng giá trị tài sản của ông Subhash Chandra là 1,8 tỉ đô-la.
Chân dung tỷ phú Subhash Chandra
Vào năm 1998, tập đoàn Essel đã đưa vào hoạt động hai khu vui chơi, giải trí lớn vào bậc nhất ở châu Á, đó là Esselworld và Water Kingdom, tọa lạc tại Gorai, khu vực ngoại ô ven bờ biển của thành phố Mumbai, Ấn Độ. Hai khu vui chơi, giải trí này đã thu hút một lượng lớn du khách đến Gorai. Vào năm 2008, tại Gorai có một ngôi chùa vĩ đại được xây dựng với cấu trúc hình tháp cao vút. Chùa được sơn thuần bằng màu vàng nên được gọi nôm na là chùa vàng. Tên chính thức của nó là Dhamma Pattana Vipassana Centre, một trung tâm thiền Vipassana (thiền Minh sát tuệ). Từ khi trung tâm thiền này được thành lập, lượng người đến Gorai đã tăng gấp vài lần. Trong đó, có khoảng 10.000 người đến Gorai để thực tập thiền Vipassana, một phương pháp hành thiền của Phật giáo đang được hồi sinh mạnh mẽ ở Ấn Độ trong những năm gần đây.
Mặc dù là tín đồ của đạo Hindu, nhưng vào thập niên 1990, ông Subhash Chandra đã tham gia nhiều khóa thiền Vipassana do Thiền sư Goenka hướng dẫn. Và ông Subhash Chandra khẳng định rằng, chính việc thực tập thiền Vipassana đã góp phần không nhỏ trong sự thành công của ông, và người thầy mà ông kính trọng, mang ơn chính là Thiền sư Goenka.
Dhamma Pattana Vipassana Centre tại Gorai, Mumbay, Ấn Độ
Dhamma Pattana Vipassana Centre lung linh lúc đêm về
Để tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với ân sư của mình và cũng là để xiển dương phương pháp thiền Vipassana, vào năm 1997, ông Subhash Chandra đã hiến tặng cho Thiền sư Goenka hơn 5 héc-ta đất ở khu vực Gorai để xây dựng trung tâm thiền Vipassana. Tất cả mọi kinh phí xây dựng trung tâm thiền ấy cũng do chính ông Subhash Chandra cúng dường. Mặc dù ông Subhash Chandra không hề cho khắc ghi tên tuổi của mình ở bất cứ nơi nào tại trung tâm, thế nhưng mọi người đều biết nhà tài trợ chính của Dhamma Pattana Vipassana Centre không ai khác ngoài ông Subhash Chandra. Vào thời điểm ông hiến tặng, thì khu đất ấy đáng giá 5 triệu đô-la, và đến nay thì có lẽ giá của nó đã tăng lên gấp đôi.
Dhamma Pattana Vipassana Centre còn có một tên gọi khác là Global Vipassana Pagoda (Thiền viện Vipassana toàn cầu). Trung tâm này được xây dựng trong vòng 11 năm, cao 97,3 mét (325 feet), được sơn thuần một màu vàng sáng, là một bản sao của ngôi chùa vàng Shwedagon ở Myanmar. Đây là một công trình hết sức đặc biệt, với mái vòng rỗng được tạo nên từ những phiến đá và không hề sử dụng một cột trụ nào để chống đỡ cả. Trung tâm thiền được xây dựng theo những kỷ thuật truyền thống, dùng các khối đá sa thạch đỏ chèn vào nhau, mỗi phiến đá nặng khoảng 7 tạ, và chúng được kết dính với nhau bằng vôi vữa. Khoảng 2,5 triệu tấn đá sa thạch được khai thác từ Rajasthan, cách Gorai khoảng 620 km, để phục vụ cho việc xây dựng trung tâm thiền này. Ông Chandra nói: "Đây là một công trình kiến trúc rất độc đáo. Có thể tồn tại đến 2.000 năm”. Và ông chia sẻ thêm: "Tôi đã được hưởng nhiều lợi ích từ thiền Vipassana. Tôi nhận thấy thiền Vipassana rất hữu ích và cần phải tạo điều kiện để cho nhiều người có thể cảm nhận và chia sẻ kinh nghiệm thực hành thiền Vipassana cũng như có được những lợi ích từ việc hành thiền Vipassana”.
Khi tiến hành xây dựng trung tâm thiền, chính ông Chandra trực tiếp giám sát công trình. Ông yêu cầu bên thi công báo cáo tiến độ thi công cho ông mỗi ngày, và ông lái xe hai tiếng đồng hồ từ trụ sở làm việc của mình đến trung tâm hai lần mỗi tuần để kiểm tra. Mặc dù ông Chandra không tiết lộ chính xác là cá nhân ông đã đóng góp bao nhiêu cho việc xây dựng trung tâm, nhưng ông thừa nhận rằng, dự án xây dựng trung tâm thiền ấy tốn gấp mười lần so với ước tính ban đầu là 2 triệu đô-la.
Trong lễ khánh thành trung tâm thiền cách đây 4 năm, ông Chandra đóng vai trò trung tâm trong buổi lễ an vị Phật và tôn trí xá-lợi. Ông Chandra kính cẩn bưng một cái hộp bằng ngọc bích đựng những viên xá-lợi xương của Phật và đặt vào gần trên đỉnh của mái vòm đầu tiên. Ông Chandra chia sẻ: “Thiền Vipassana dạy cho tôi biết cách giữ được tâm buông xả trong tất cả các hoàn cảnh của cuộc sống. Điều này đã giúp tôi rất nhiều trong công việc, nhất là trong những lúc khó khăn”.
Ông Chandra cũng đã từng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, từng bị khủng hoảng về tài chính. Ông được sinh ra trong một gia đình kinh doanh và lớn lên tại một ngôi làng nhỏ ở miền Bắc Ấn Độ. Khi ông vừa mới lớn thì gia đình rơi vào cảnh nợ nần và chia ly. Ông đã phải bỏ học đại học để đi làm việc kiếm sống và phụ giúp gia đình. Không có đủ một đô-la dính túi, người thanh niên Chandra đã chuyển đến Delhi để tìm cách giúp gia đình trả hết nợ. Cuối cùng, ông đã kiếm tiền được khá nhiều tiền trong việc kinh doanh lúa gạo. Rồi ông chuyển đến Mumbai và khuếch trương sự nghiệp của mình.
Những năm đầu thập niên 1990, từ kênh truyền hình Zee TV, ông gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chánh, ông đốt hơn 6 triệu đô-la mỗi tháng cho kênh truyền hình này. Chính vì vậy mà ông bị khủng hoảng tinh thần. Trong khoảng thời gian này, một người quen đã dẫn ông đến gặp Thiền sư Goenka, và thiền sư đã thuyết phục ông Chandra tham dự khóa thiền Vipassana. Và vợ của ông Chandra, bà Sushila, cũng khuyến khích chồng tham dự khóa thiền Vipassana, xem như đấy là một liệu pháp cho sự căng thẳng hiện tại của ông. Vợ ông chia sẻ: “Ngay cả trong hiện tại, bất cứ lúc nào anh ấy gặp rắc rối trong công việc, tôi đều nhắc anh trở về với nội tâm, thực tập thiền Vipassana”.
Ngay trong lần tham dự đầu tiên, thiền Vipassana đã cho thấy rằng, nó không chỉ đơn thuần là một phương thức giải tỏa stress mà còn hơn thế nữa. Khi ông Chandra trở lại làm việc sau một khóa tu mười ngày, đồng nghiệp của ông nhận xét rằng, tâm trí của ông trở nên "sắc bén như dao". Khi bảo ông diễn tả về những kinh nghiệm khi hành thiền Vipassana, ông nói: "Điều đó không thể nào giải thích chính xác được. Nhưng có thể nói rằng, sự hồi sinh trong khoảng thời gian tôi tham dự khóa thiền là rất lớn. Vô lượng vô biên!".
Khi các vấn đề trở nên căng thẳng hơn với Chandra, ông lại tiếp tục tham dự các khóa thiền Vipassana một cách thường xuyên. Từ khi biết thiền Vipassana đến nay, ông Chandra đã tham dự 17 khóa thiền. Khoảng thời gian của các khóa thiền thì có khác nhau, ít nhất là 3 ngày, và nhiều nhất là 25 ngày. Ông Chandra chia sẻ thêm: "Tôi thường xuyên bị những áp lực công việc và cuộc sống ngăn cản, nhưng tôi vẫn đi tham dự khóa thiền".
Ông Chandra cố gắng hướng các thành viên trong gia đình mình thực tập thiền Vipassana, nhưng chưa thành công lắm. Nhân viên của kênh truyền hình Zee TV được nghỉ phép có trả lương để họ tham dự các khóa thiền Vipassana.                                               
Ông Chandra nói: "Tôi nhận thấy phương pháp thiền này là rất khoa học. Và tôi thấy nó là con đường đúng đắn để tôi đi".
Thiền Vipassana có nguồn gốc từ Ấn Độ, nơi Đức Phật từng giảng dạy và thực tập thiền Vipassana cách đây hơn 2.500 năm. Sau đó, thiền Vipassana được truyền sang các nước láng giềng như Myanmar và Sri Lanka và cuối cùng biến mất khỏi Ấn Độ. Thiền Vipassana được hồi sinh tại Ấn Độ vào năm 1969, khi Thiền sư Goenka, lúc đó đang sống ở Myanmar, trở về quê hương Ấn Độ của mình để giới thiệu về thiền Vipassana. Viện Nghiên cứu thiền Vipassana là một tổ chức phi lợi nhuận, do thiền sư Goenka thành lập. Mỗi năm có đến hàng chục nghìn người tình nguyện tham dự các khóa thiền tại 163 trung tâm trên 90 quốc gia.
Các khóa thiền Vipassana đều miễn phí. Nguồn kinh phí duy nhất là nhờ vào sự cúng dường của các thiền sinh đã từng tham dự trước đó. Để biết phương pháp thiền Vipassana thì hành giả bắt đầu với một khóa thiền mười ngày. Trong các khóa thiền, học viên ngồi thiền mười giờ mỗi ngày, bắt đầu từ 4 giờ sáng; và phải tuân thủ những nguyên tắc đạo đức nghiêm ngặt, bao gồm cả việc không nói dối, không trộm cắp và không quan hệ nam nữ. Các  học viên phát nguyện giữ im lặng, không đọc, không viết, không xem tivi, không nói chuyện qua điện thoại. Và còn các quy định cũng như các nguyên tắc khác nữa.
Năm 2009, ông Subhash Chandra thành lập Global Vipassana Foundation (Hội từ thiện Vipassana toàn cầu), một tổ chức từ thiện nhằm hỗ trợ mọi người thực hành thiền Vipassana và thúc đẩy sự hòa hợp giữa các nền văn minh cũng như giữa các tôn giáo. Hiện ông Chandra đang giữ chức chủ tịch của hội này. Và ông vẫn luôn thực tập thiền mỗi ngày, thực tâp mọi lúc, mọi nơi.
Naazneen Karmali - Minh Nguyên dịch
(Theo tạp chí Forbes)
(Nguồn: bào Giác Ngộ, Số 634, ra ngày 24/3/2012)

Nhật Bản: Câu chuyện cảm động về một người làm việc mai táng

Người dân Nhật thành tâm tưởng niệm các nạn nhân
Đang khổ dau tìm kiếm thi thể của mẹ tại một nhà xác tạm thời trong thành phố Kamaishi, nơi vừa bị sóng thần tàn phá vào ngày 11-3-2011, cô Fumie Arai bỗng cảm thấy dễ chịu trước một sự phát hiện nhỏ nhưng đáng ngạc nhiên rằng, phần thân thể của mẹ cô thì bị bầy nhầy bởi bùn đất, nhưng khuôn mặt của mẹ cô thì đã được ai đó cẩn thận làm vệ sinh sạch sẽ.
Lúc ấy cô Arai không biết ai đã làm việc đó, nhưng đấy là công việc của một người Nhật làm việc mai táng đã nghỉ hưu, ông ta cũng rất thông thạo trong các nghi lễ Phật giáo cổ truyền trong khâu chuẩn bị cho việc hỏa táng và chôn cất người chết. Người làm việc mai táng ấy là ông Atsushi Chiba, người chăm sóc cho gần 1.000 thi thể tại tỉnh Kamaishi. Và bây giờ ông đã trở thành một vị anh hùng hết sức đặc biệt trong cộng đồng những người đang cố gắng chữa lành những đau thương sau trận động đất và sóng thần kinh hoàng tàn phá bờ biển Đông Bắc của Nhật Bản cách đây đúng một năm.
Cô Arai, 36 tuổi, cho biết: “Tôi sợ tìm thấy cơ thể của mẹ tôi nằm một mình trên nền đất lạnh giữa đám người lạ. Khi tôi nhìn thấy khuôn mặt sạch sẽ và yên bình của mẹ mình, tôi biết một người nào đó chăm sóc cho thi thể của mẹ tôi cho đến khi tôi tìm thấy. Điều đó đã cứu tôi".
Câu chuyện của ông Chiba đã trở nên bất hủ trong một cuốn sách bán chạy nhất ở Nhật Bản, đã bán được hơn 40.000 bản và đang được tái bản lần thứ 11.
Tác giả của cuốn sách, ông Kota Ishii, người đã trải qua ba tháng ở Kamaishi và vùng phụ cận của khu vực bị thiên tai, người ghi chép lại công việc của ông Chiba, đã viết: "Các thi thể là một vấn đề đáng lo ngại nhất của bất kỳ thảm họa nào, và một số người có thể không muốn nhớ về chúng. Nhưng đây là câu chuyện hết sức đặc biệt về một hành vi nhỏ của sự tử tế có thể đua đến tính nhân văn nho nhỏ, ngay cả trong một thảm kịch vượt ra ngoài tất cả sức tưởng tượng của con người".
Những ngọn sóng cao gần 10 mét đã quét vào Kamaishi ngay sau cơn động đất mạnh 9.0 độ richter vào ngày 11 tháng 3, chúng đã phá hũy hầu hết các khu vực, các công trình quan trọng của thành phố. Tuy nhiên, có một pho tượng Quan Thế Âm lộ thiên màu trắng ở trên một ngọn đồi của thành phố hướng ra biển thì không tổn hại gì.
Sau khi nước đen rút đi, đội cứu hộ tiến vào những tuyến phố bị tàn hoại trong thành phố để cứu hộ và dọn dẹp. Họ bắt đầu kéo những thi thể từ các đống đổ nát đưa lên xe tải để chuyến đến một trường trung học còn sót lại sau trận thiên tai. Phòng tập thể dục của trường trong chốc lát đã trở thành một nhà xác lớn.
Ông Chiba, đã ngoài thất tuần, cùng người thân trong gia đình cũng được thoát nạn, đã chạy đến phòng tập thể dục của trường sau trận thiên tai một ngày để tìm người thân và bạn bè, nhưng đã bị chấn động trước số lượng thi thể nạn nhân càng lúc càng tăng ở đó. Hầu hết các thi thể đều vẫn còn phủ trong quần áo lấm lem bùn đất và được bọc trong túi ni-lon, chân tay cứng nhắc của họ thì nhô ra và khuôn mặt thì bầm tím, trầy xước và méo mó trong trạng thái đau đớn.
Trong một cuộc phỏng vấn, ông Chiba đã bày tỏ: "Tôi nghĩ rằng, nếu các thi thể vẫn giữ nguyên trạng thái đó thì khi người thân của họ đến tìm kiếm và xác nhận, người ta không thể nào chịu đựng nổi trước cảnh tượng đó. Vâng, họ đã chết. Nhưng ở Nhật Bản, chúng ta vẫn đối xử với người chết một cách tôn trọng, như thể là họ vẫn còn sống. Đó cũng là một cách để an ủi người sống”.
Chính vì suy nghĩ như thế nên ông Chiba quyết định làm việc. Ông trở thành một người gắn bó với nhà xác, ông nói chuyện với những thi thể khi ông làm vệ sinh cho họ nhằm chuẩn bị cho việc nhận dạng và hỏa táng. Ông đã nói: "Chắc hẳn bạn rất lạnh và cô đơn, nhưng gia đình của bạn sẽ sớm đến với bạn, cho nên bạn nên suy nghĩ về những gì bạn sẽ nói với họ khi họ đến".
Ông cũng hướng dẫn các công nhân của thành phố làm việc tại nhà xác về cách làm mềm tứ chi đã bị cứng đờ của thi thể, ông còn chỉ cho các công nhân cách mát-xa để cho thi thể ít bị méo mó, vặn vẹo hơn. Ông Chiba còn sử dụng các nghi lễ Phật giáo trong việc chăm sóc cho gần 1.000 thi thể, vì theo ông: "Đó là một cách để an ủi người sống”. Thậm chí ông Chiba còn trang điểm cho một số thi thể nếu người thân của họ cần.
Những nỗ lực để tôn vinh người chết của ông Chiba nhanh chóng được nhiều người tán trợ và làm theo. Các công nhân kê những cái bàn của trường học cũ lại với nhau để tạo nên một bàn thờ Phật. Họ đặt thi thể của các cặp vợ chồng và các thành viên trong gia đình gần với nhau. Mỗi khi một thi thể được đưa ra, các công nhân xếp hàng và cúi đầu để tỏ lòng tôn kính lần cuối đối với thi thể ấy.
Và theo lời kêu gọi của ông Chiba, Kamaishi, một trong những thành phố bị tàn hại nặng nề nhất, trở thành thành phố duy nhất tiến hành hỏa thiêu tất cả những thi thể của nạn nhân, để làm được điều này họ đã nhờ đến sự hỗ trợ của các lò thiêu ở Akita, cách đó khoảng 100 dặm.
Chỉ riêng thành phố Kamaishi, thảm họa kinh hoàng vào ngày 11-3-2011 đã giết chết 888 người trong tổng số gần 40.000 cư dân, bên cạnh đó còn có hơn 158 người bị mất tích và coi như đã chết. Trận sóng thần đã tàn phá gần như một nữa thành phố.
Trong lúc thành phố Kamaishi chuẩn bị lễ tưởng niệm để đánh dấu lần tưởng niệm đầu tiên của trận thảm họa, thầy Enou Shibasaki, một vị tu sĩ Phật giáo, đã vinh danh sự đóng góp của ông Chiba trong việc khôi phục cảm xúc của thành phố.

Chư Tăng cầu nguyện cho các nạn nhân tại bờ biển Kitaizumi, Fukushima
Thầy Enou Shibasaki chia sẻ: "Cho dù bạn là người theo tôn giáo hay không, lo tang lễ cho người quá cố là một nhu cầu căn bản. Việc lo tang lễ bắt đầu bằng cách chăm sóc thi thể người chết. Đấy là lần cuối cùng bạn nhìn thấy người thân yêu của mình và bạn muốn ghi nhớ họ bằng một hình ảnh đẹp như họ có khi còn sống".
Minh Nguyên (Theo New York Times)
(Nguồn: Báo Giác Ngộ, Số 633, ra ngày 17/3/2012)

Làm Sao Để Kiếm Tìm Vị Thầy Tâm Linh ?


“Dựa trên những lời giáo huấn để đánh giá một vị thầy: Đừng có tin một cách mù quáng, nhưng cũng đừng có phê bình mù quáng”. (Dalai Lama)
Chúng ta cần sự hỗ trợ trên con đường tâm linh để giúp chúng ta tìm ra con đường đúng đắn. Rõ ràng, một người tốt nhất để chúng ta đi theo có thể xem như là một hướng dẫn viên du lịch giỏi, người đã đi qua con đường đó một cách thành công. Người ấy có thể giúp ta rút ngắn lộ trình của mình và tránh những chướng ngại trên đường.
Ở phương Tây, vai trò của vị thầy tâm linh thường bị hiểu nhầm, bởi vì người phương Tây đã không còn giữ hệ thống giáo dục cổ điển, học sinh học với một vị thầy giáo trong nhiều năm, chẳng hạn như là việc học các ngành nghề thủ công.
Có nhiều sự hiểu nhầm về các bậc thầy tâm linh. Một số người có thể nghĩ rằng, một vị thầy tâm linh sẽ nhận lãnh toàn bộ trách nhiệm đối với đời sống của một người đệ tử, và xem người đệ tử như là một kẻ biết vâng lời, như một đứa trẻ vô tâm. Như Scott Mandelker nhận định: “Dường như rằng, hầu hết những người đệ tử đều thật sự muốn giữ lại một chút tính trẻ con, và thần tượng hóa người cha, người mẹ tâm linh thiêng linh của mình”.
Tuy nhiên, không ai có thể nhận lãnh trách nhiệm thay cho chính ta, thay cho lối sống của ta, thay cho những hạnh nghiệp mà ta đã làm. Thậm chí, ngay cả khi chúng ta nhường việc đưa ra một số quyết định lại cho người khác thì chúng ta vẫn chịu trách nhiệm về những hành động của ta, kể cả khi chúng ta chuyển các quyết định ấy cho người khác.
Chúng ta cần có cái nhìn thiết thực về những vị thầy tâm linh. Nếu chúng ta muốn học điều gì đó thì chúng ta cần một vị thầy, hoặc ít ra thì sẽ rất hữu ích khi chúng ta có một vị thầy chỉ dẫn. Làm sao chúng ta có thể tiến bộ trong việc tập đọc, tập viết khi không có thầy dạy, không có người hướng dẫn? Ngài Zasep Tulku Rinpoche đã dạy: “Nếu bạn học Phật chỉ vì mục đích nghiên cứu, vì muốn phát triển sự hiểu biết của mình về Phật pháp, nếu bạn bạn chỉ học Phật pháp mang tính học thuật, chỉ ở mức độ tri thức thì tôi nghĩ bạn không cần đến mối quan hệ thầy-trò. Và bạn cũng có thể học với tất cả mọi vị thầy. Việc này cũng giống như bạn đến học tại một trường đại học vậy, bạn học với những vị thầy khác nhau, những giáo sư khác nhau và cứ thế bạn tiến về phía trước. Nhưng nếu bạn muốn dấn thân tu theo Phật pháp thì cần phải có vị thầy dẫn dắt, bởi vì chúng ta cần phải biết làm sao để đạt đến sự giải thoát, làm sao để thực tập Chánh pháp”.
Trong đạo Phật, chúng ta cần phải nhận thấy được rằng, vai trò của người thầy tâm linh là vô cùng quan trọng, bởi vì người thầy có thể dẫn dắt chúng ta tìm thấy được trí tuệ bên trong mình, nhận thấy “vị thầy bên trong” của mình. Chúng ta cần phải phát triển trí tuệ và sự thấu hiểu của mình để trở thành một bậc thầy, và cuối cùng là chính ta trở thành một vị Phật. Trong ý nghĩa đó, một vị thầy như là “một người mẹ tâm linh”; ở giai đoạn khởi đầu, chúng ta dường như không có khả năng tự lập, vì thế chúng ta cần nhiều sự giúp đỡ, sự chỉ dẫn; nhưng cuối cùng thì chúng ta cần phải đứng bằng chính đôi chân của mình và có khả năng tự lập. Ngài Lama Thubten Yeshe từng dạy: “Một vị thầy tâm linh là một người thật sự có thể chỉ cho bạn thấy Phật tánh trong tâm của bạn và là người biết những phương thuốc tuyệt hảo để chữa trị những tâm bệnh của bạn. Một người mà không biết tâm của chính họ thì sẽ không bao giờ biết được tâm của người khác, do vậy họ không thể nào làm một vị thầy tâm linh”.  
Trước khi chúng ta quyết đinh đi theo một vị thầy tâm linh, chúng ta cần phải tìm hiểu về vị đó, đây là điều hết sức quan trọng. Có không ít những điều dối trá ở xung quanh ta. Trong truyền thống Ấn Độ cổ, các vị thầy thường được kiểm tra trong vòng 12 năm hoặc hơn trước khi họ được hoàn toàn tin tưởng và giao phó nhiệm vụ làm vị thầy hướng dẫn tâm linh cho học trò. Người ta rất dễ đi theo người khác một cách mù quáng, đặc biệt là với “những người nói rất êm tai” và “những người bán hàng giỏi”. Lý do khiến các vị thầy tâm linh được gọi với những cái danh từ xấu đó là vì nhiều người đã bị lừa bởi những thứ hào nhoáng bên ngoài. Những người đó không nên tin tưởng một cách mù quáng vào các vị thầy như thế để rồi đi theo họ.
Bạn cần phải có trách nhiệm kiểm tra những cảm nhận của mình một cách nghiêm túc, ngay cả trong những mối quan hệ cá nhân: Kiểm chứng xem những hành vi của họ có hợp với những gì họ nói không? Phải chăng họ thường nhấn mạnh đến những vấn đề đời thường hơn so với con đường tâm linh của họ? Hãy xem những gì mà các vị đệ tử khác nói về thầy của họ; và đương nhiên là cả những điều mà các vị thầy khác nghĩ.
Làm sao để một người có thể chọn cho mình một vị thầy để giảng dạy cho họ các vấn đề tâm linh hoặc là nhận biết một vị thầy đáng tin cậy? Đối với câu hỏi này, Đức Dalai Lama đã dạy: “Điều này nên được tiến hành một cách tương ứng với tính tình và mối quan tâm của bạn, nhưng bạn phải phân tích kỹ lưỡng. Bạn phải kiểm tra trước khi nhận một vị thầy tâm linh để xem vị đó có thật sự có khả năng hay không. Trong kinh điển có dạy rằng, một con cá ẩn nấp dưới nước có thể được nhìn thấy thông qua sự chuyển động của những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước, cũng vậy, những phẩm chất bên trong của một vị thầy, qua thời gian, có thể nhìn thấy một ít thông qua những hành vi của vị đó. Chúng ta cần nhìn vào sự uyên thâm của vị thầy - khả năng giải thích các chủ đề - và xem vị đó có thực hiện những lời họ dạy trong tư cách đạo đức và lối sống của bản thân hay không.
Theo ngài Jamgon Kongtrul Lodro Thaye, thật khó để nhận ra một vị thầy chân thực, bởi vì những phẩm chất của một vị thầy đích thực thường nằm ở bên trong. Chúng ta không thể dựa vào những yếu tố bên ngoài được, nhưng những yếu tố bên ngoài là những gì chúng ta có thể thấy. Rất khó nhìn thấy được những phẩm chất bên trong của người khác. Một người kinh doanh có thể thân thiện với chúng ta hơn cả người bạn thân nhất của mình, trong khi động cơ bên trong của anh ta là chỉ để bán được sản phẩm. Tương tự như thế, một vị thầy hành xử với chúng ta bằng một thái độ rất tử tế và đầy yêu thương, nhưng điều đó không hẳn là vị ấy có tâm thương yêu và vị tha, tại vì chúng ta không thể nhìn thấy được động cơ bên trong của người đó. Chúng ta cũng không thể xác định những phẩm chất của một vị thầy dựa trên danh tiếng của họ, hay là dựa trên số lượng đệ tử, học trò của họ.
Không có một giải pháp đơn giản cho vấn đề này, nhưng có một vài điều mà chúng ta có thể áp dụng trong việc tìm kiếm cho mình một vị thầy tâm linh. Trước hết, chúng ta cần làm quan với những phẩm chất của một vị thầy tâm linh, đó là: 1. Một vị thầy tâm linh phải có hành vi đạo đức phù hợp, không làm tổn hại người khác mà lại còn giúp đỡ; 2. Có khả năng định tĩnh; 3. Không chấp ngã và không có những ý niệm về tự ngã; 4. Giảng dạy mọi người với tâm thương yêu, không vụ lợi; 5. Có sự hiểu biết, có tri thức phù hợp; 6. Chuyên tâm giảng dạy không biết mệt mõi; 7. Thông thạo nhiều kinh điển; 8. Nghiên cứu sâu và thực chứng nhiều hơn học trò; 9. Khéo thuyết giảng; và 10. Không thất vọng và bỏ rơi học trò khi họ có những biểu hiện chưa tốt. Nếu được thì nên tìm những vị thầy tâm linh hội đủ 10 phẩm chất nói trên, hoặc ít nhất là 5 phẩm chất đầu. Tiếp đến, chúng ta phải duy trì sự tỉnh giác đối với động cơ của chính mình trong quá trình tìm kiếm vị thầy tâm linh. Chúng ta phải luôn tự vấn chính mình: Phải chăng tôi đang tìm kiếm một vị thầy để giúp tôi đạt được sự giác ngộ để rồi làm lợi ích cho chúng sanh, hay là tôi tìm kiếm một vị thầy để thỏa mãn nhu cầu của tôi là có được uy tín khi được ở bên cạnh một vị thầy nổi tiếng, hay chỉ đơn giản là tôi bị thu hút bởi không gian tu tập đẹp đẽ của vị thầy, hay là bị cuốn hút bởi hình ảnh của cộng đồng tu sĩ tân thời…?
Những động cơ của chúng ta rất là quan trọng, chúng góp phần giúp ta tìm được một bậc thầy minh triết thực sự. Bởi vì, vị thầy mà ta tìm thấy có liên hệ với nghiệp của ta, và nghiệp của ta thì lại gắn kết mật thiết với động cơ của mình. May mắn cho chúng ta là còn có những phương pháp giúp ta thanh lọc động cơ của bản thân và tạo ra những điều kiện tương hợp cho việc tìm kiến một vị thầy minh triết. Những phương pháp ấy là: dùng sự tỉnh giác của mình để soi rọi vào những động cơ của bản thân càng nhiều càng tốt, thực tập thiền mỗi ngày, và cầu nguyện Tam bảo gia hộ… Những phương pháp này sẽ giúp ta gặp và nhận ra một vị thầy minh triết thực thụ.
Trong truyền thống tu tập của Phật giáo, Đức Phật đã ví những giáo pháp mà Ngài đã giảng dạy như những vị thuốc, và người thầy tâm linh thực thụ như là những vị bác sĩ giỏi, có khả năng chẩn đoán đúng tâm bệnh của đệ tử để rồi đưa ra những phương thuốc phù hợp giúp chữa lành căn bệnh cho họ. Vì thế, trên con đường tu học, nếu ta gặp được một vị thầy tâm linh thực thụ, một vị thầy với đầy đủ sự minh triết và lòng thương yêu để dẫn dắt chúng ta tu học thì đấy là một diễm phúc lớn, một phước báo lớn của ta.
Rudy Harderwijk - Quảng Trí lược dịch 
(Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ, số 192, ra tháng 3/2012)

Clip “Thầy trò Đường Toong đi thỉnh … Bao Cao Su”, một sản phẩm không có tính nhân văn

Hình ảnh và bài viết có ý đánh giá cao về clip 
Mấy ngày gần đây trên các kênh truyền hình và rất nhiều trang web phổ biến một video clip với chủ đề “Thầy trò Đường Toong đi thỉnh … Bao Cao Su” kèm theo lời nhận xét về clip:
Khác với những phiên bản chế đang tràn lan trên mạng internet có nội dung chọc phá, clip này chứa đựng một thông điệp ý nghĩa về “Người bạn nổi tiếng” - bao cao su.
Đây là tác phẩm tham dự cuộc thi tìm kiếm thông điệp xuất sắc cho dự án “Friendly Condom” (Bao cao su thân thiện) của Ngôi nhà Tuổi trẻ - trung tâm chăm sóc, tư vấn sức khỏe sinh sản thuộc Đoàn TNCS HCM.
Với phong cách “chế” hài hước, dí dỏm đậm chất sinh viên, câu chuyện “Thầy trò Đường Tông đi thỉnh... bao cao su” trở thành một phiên bản hoàn toàn mới lạ của tích “Tây du ký”.
Thật là một việc làm quá nông nổi, một sản phẩm văn hóa quá phản cảm. Quả thật không thể nào hiểu nổi lối suy nghĩ “sáng tạo” của các bạn thanh niên đã làm ra clip này, và càng không thể nào chấp nhận được trình độ nhận thức vấn đề của Ban giám khảo và Ban tổ chức cuộc thi khi họ đánh giá clip này là một clip XUẤT SẮC.
Đường Tăng hay Đường Huyền Trang là một nhân vật lịch sử, là một bậc Cao Tăng, một nhà văn hóa kiệt xuất của Phật giáo Trung Hoa nói riêng và là của Phật giáo nói chung. Và tác phẩm Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân viết về sự tích ngài Huyền Trang đi Tây Trúc thỉnh kinh là một tác phẩm văn học nổi tiếng và đã được chuyển thể thành bộ phim cùng tên cũng rất nổi tiếng. Thế mà các bạn thanh niên ấy đã phù phép, biến một nhân vật lịch sử, một vị ĐƯỜNG TĂNG đã cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp cao cả “ĐI THỈNH KINH” thành một nhân vật “ĐƯỜNG TOONG” “ĐI THỈNH BAO CAO SU”.
Xét về mặt văn hóa, lịch sử, đây là một việc làm vô văn hóa, không tôn trọng lịch sử, không kính trọng các danh nhân văn hóa, và cũng có nghĩa là không tôn trọng các giá trị văn hóa, đạo đức.
Xét về mặt tôn giáo, đây là môt việc làm xúc phạm nghiêm trọng đến Phật giáo, đến sự thiêng liêng và tôn nghiêm của Đức Phật và chư Tăng. Dẫu biết rằng đạo Phật là đạo cứu nhân độ thế và Đức Phật luôn ban vui, cứu khổ cho chúng sanh. Nhưng bên cạnh đó, đạo Phật còn là đạo của sự thanh cao, đức hạnh. Đạo Phật dạy con người sống có đạo đức, sống chung thủy và tiết dục. Nều như để ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS thì đạo Phật khuyên mọi người sống một đời sống đạo đức thanh cao, giữ gìn năm nguyên tắc đạo đức cơ bản (năm giới), chứ không bao giờ cổ xúy mọi người dùng bao cao su. Bởi vi, cổ xúy cho việc dùng bao cao su chẳng khác gì ngầm khuyến khích mọi người quan hệ tình dục một cách phóng túng, đấy là một việc làm chạy theo phần ngọn, chẳng bao giờ chấm dứt được đại dịch. Điều này hoàn toàn đi ngược lại với tinh thần từ bi và trí tuệ của đạo Phật. Chưa hết! Hình ảnh Đức Phật và chư Tăng được tín đồ đạo Phật xem như là những hình tượng vô cùng thiêng liêng, tôn quý, vậy mà ở đây tác giả của clip này lại gắn kết hai hình ảnh tôn quý đó với vấn đề bao cao su, vấn đề quan hệ tình dục, một vấn đề rất phàm tục, trần tục. Không biết tác giả của clip này có chủ ý muốn bôi nhọ Phật giáo hay không? Nhưng việc làm này đã xúc phạm nghiêm trọng đến niềm tin và tín ngưỡng của người theo đạo Phật.  
Một clip phản cảm, thiếu văn hóa, xúc phạm nghiêm trọng đến Phật giáo như thế mà lại được Ban giám khảo, những người làm công tác tuyên truyền lối sống văn minh, văn hóa của Đoàn TNCS HCM đánh giá rất cao. Chưa dừng lại ở đó. Clip này lại được dùng để quảng bá cho việc sử dụng bao cao du trong quan hệ tình dục trên các kênh truyền hình và các trang web chính thống của Đoàn TNCS rồi sau đó thì phát tán tràn lan trên internet. Tại sao lại có một sự đồng thuận của nhiều người, nhiều cơ quan, tổ chức nhà nước về một clip phản cảm và xúc phạm Phật giáo như thế? Phải chăng những giá trị văn hóa, đạo đức đã bị mọi người đặt ra ngoài lề và vấn đề quan tâm chính của họ là những thứ khác?

Thiếu gì cách để quảng bá cho việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục. Tại sao lại phải dùng đến những hình ảnh tôn quý của Phật giáo như thế? Tải sao lại sáng tạo, lại đưa ra những ý tưởng mới gây tổn hại đến niềm tin tôn giáo của đa số người Việt, xâm phạm đến uy danh của một tôn giáo đã vào sanh ra tử, đã đi cùng với dòng sinh mệnh của dân tộc Việt Nam hẳng mấy mươi thế kỷ như thế chứ? Nếu như có ai đó sáng chế "hành trình đi tìm đường cứu nước cao cả cua lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc" thành "hành trình đi tìm bao cao su của Nguyễn Ái ... gi do" bằng cách sử dụng những hình ảnh, những âm thanh trong phim tư liệu về cuộc đời cao cả của chủ tịch Hổ Chí Minh thì liệu Ban tổ chức cuộc thi có đánh giá cao tác phẩm đó? Liệu các cơ quan, các phương tiện truyền thông có đăng tải và quảng bá rầm rộ cho clip đó không? Nhưng chắc chắn không ai dám sáng chế theo kiểu này vì họ biết rõ hậu quả của nó nghiêm trọng đến mức nào, vì họ sợ.... Vậy tai sao họ lại làm ra clip “Thầy trò Đường Toong đi thỉnh … Bao Cao Su” chứ? Và lại con được đánh giá cao, có ỳ tưởng sáng tao, thu hút sự quan tâm của giới trẻ, được quảng bá rông rãi trên các phương tiện  truyển thông nữa chứ. Và bây giờ, trước làn sóng phản đối mạnh mẽ của dư luậnn - cả những người theo đạo Phật và những người theo đạo khác, hoặc những người không theo đạo nhưng có lương tri, có văn hóa - thì Ban tổ chức lại đỗ thừa trách nhiệm cho nhau và nhóm tác giả thì im hơi lặng tiếng, không một lời xin lỗi, và các cơ quan chức năng thì cũng chưa có động thái can thiệp gì cả. Tại sao trong một nước ổn định vá phát triển, như Việt Nam chúng ta, một nước có 4000 năm văn hiến lại có tình trạng này xảy ra chứ? Lương tri của mọi người đâu hết rồi?
Để phát huy nếp sống đạo đức, lành mạnh trong xã hội, để xây dựng lối sống văn minh thì mọi người - nhất là những người làm công tác tuyên truyền, vân động cho đời sống văn minh, văn hóa, đại diện cho một tầng lớp tiên tiến, tinh hoa của nước nhà - cần phải tôn trọng và giữ gìn các giá trị văn hóa, đạo đức, tôn trọng niềm tin tôn giáo của người khác. Mong sao mọi người đều ý thức rõ và tuân thủ nghiêm túc về điều này.

Minh Nguyên
Clip “Thầy trò Đường Toong đi thỉnh … Bao Cao Su”

Một số link để bạn đọc tham khảo thêm:
Clip Đường Tông thỉnh bao cao su không đoạt giải
Clip 'Thầy trò Đường Tông đi thỉnh... Bao cao su'
Vụ clip “Thầy trò Đường Tông đi thỉnh bao cao su”: Ai chịu trách nhiệm?

Sri Lanka: Tăng đoàn đã bảo vệ đất nước trong hơn 2.500 năm qua

Vừa qua, Hội thảo Phật giáo Quốc tế đã được tổ chức tại Đại học Phật giáo Buddhasravaka Bhiksu, Sri Lanka. Phát biểu tại hội thảo, Thủ tướng Sri Lank, ông DM Jayaratne đã nhấn mạnh: “Tăng đoàn đã và đang bảo vệ đất nước, dân tộc và tôn giáo trong hơn 2.500 năm qua. Ngày nay, trong tình hình có một thế lực thù địch đang cố gắng mời gọi các thế lực từ nước ngoài vào nhằm thực hiện những mục đích hạn hẹp và bán nước của họ. Tôi, với tư cách là Thủ tướng của Chính phủ, thay mặt cho Tổng thống Mahinda Rajapaksa, kêu gọi chư Tăng nâng cao cảnh giác và thận trọng với các thế lực thù địch ấy".
Ba ngày của Hội thảo Phật giáo Quốc tế (International Buddhist Conference – IBC) đã được tổ chức tại hội trường khách sạn Dulyana Anuradhapura.
Thủ tướng Jayaratne phát biểu tại hội thảo
IBC được tổ chức và tài trợ bởi Đại học Buddhasravaka Bhiksu, dưới sự chỉ đạo của ngài Thumbulle Seelakkhandha Nayaka Thera, Phó hiệu trưởng của Đại học Buddhasravaka Bhiksu, cùng với sự hỗ trợ đắc lực của Bộ Giáo dục Sri Lanka.
Một trăm năm mươi đại biểu Phật giáo nước ngoài, bao gồm cả những nhà trí thức thuộc hai giới tu sĩ và cư sĩ, đại diện cho các trường đại học và các hiệp hội Phật giáo thuộc 15 quốc gia đã tham dự hội nghị. Bên cạnh đó còn có các vị khách mời thuộc phía chính quyền nhà nước và chư Tăng lãnh đạo Tăng già Sri Lanka, cùng đông đảo quan khách trong và ngoài nước đã có mặt tại buổi lễ khai mạc.
Thủ tướng Jayaratne còn cho biết, Tăng đoàn ở Sri Lanka cũng như ở các quốc gia Phật giáo khác đã đóng một vai trò lịch sử quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy Phật giáo tại đất nước mình. Các cư sĩ Phật tử thì nương vào sự dẫn dắt của các vị tu sĩ để giữ gìn sự thuần khiết nguyên sơ của giáo lý Phật giáo. Thông điệp của Đức Phật rất tương hợp với thế giới hiện tại, tuy nhiên chúng ta đang phải đối mặt với nhiều trở ngại quyết định đến sự sống còn của Phật pháp ở các quốc gia Phật giáo.
Thủ tướng Jayaratne nhấn mạnh: Sự nghèo đói ở các nước châu Á đã tạo nhiều cơ hội tốt cho các tôn giáo khác trong việc lôi kéo các cư sĩ Phật tử nghèo của các nước đi theo tôn giáo của họ bằng cách cung cấp các lợi ích vật chất. Điều này đã trở thành một vấn đề đáng báo động, gây thiệt hại cho Phật giáo ở các nước này.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông SB Dissanayake, phát biểu rằng: Ông tin chắc rằng, đây là thời điểm thích hợp cho việc cải cách hệ thống giáo dục Tăng sĩ để cho phù hợp với thế giới hiện đại.
Ông còn gợi ý, chúng ta nên nỗ lực tìm hiểu và học hỏi từ sự đa dạng và giàu truyền thống Phật giáo ở các quốc gia khác, chúng ta cần phải nỗ lực để hợp tác với nhau để cùng nhau hướng đến việc truyền bá giáo lý của đạo Phật.
Phó hiệu trưởng Đại học Buddhasravaka Bhiksu, Hòa thượng giáo sư Tumbulle Sri Seelakkhandha Nayake Thera, cũng đã phát biểu trong hội nghị rằng: Đây là một thời điểm vô cùng đặc biệt trong dịp kỷ niệm 2.600 năm ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo để chúng ta nhìn lại quá trình tiến bộ của Phật giáo từ trước cho đến nay. Sẽ vô cùng lợi ích cho loài người khi chúng ta chẩn đoán một cách đúng đắn những thách thức trên nhiều phương diện mà Phật giáo đã phải đối mặt với cả hai khía cạnh nội tại và ngoại tại trong hơn 2,5 thiên niên kỷ.
Giáo sư Ananda Wehihena Palliya Guruge, giáo sư nghiên cứu Phật giáo và trợ lý đặc biệt cho Hiệu trưởng Đại học Tây Lai, Los Angeles, Hoa Kỳ cho biết trong bài phát biểu của mình rằng, từ trước đến nay cộng đồng Phật giáo quốc tế vẫn chưa nhận ra được sự cần thiết đối với một cơ quan định hướng hành động nhằm khởi xướng và thực hiện sự nỗ lực tổng hợp để thúc đẩy sự phát triển của Phật giáo. Những trường học truyền thống của Phật giáo và các tông phái Phật giáo đã phát triển một cách dân chủ và có tính phân cấp độc lập cao trong suốt chiều dài lịch sử.
Minh Nguyên (Theo Dailynews.lk)
(Nguồn: Tuần báo Giác Ngộ, số 631, ra ngày 3-3-2012)

 
Design by Wordpress Theme | Bloggerized by Free Blogger Templates
Khi sử dụng tài liệu từ blog này, vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn tài liệu. Cảm ơn!