Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm Lý - Đạo Đức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm Lý - Đạo Đức. Hiển thị tất cả bài đăng

Để sống có hạnh phúc

 
LTS: Vào ngày 15-3-2012, Tăng đoàn tu viện Namyal - tu viện của Đức Dalai Lama tại Dharamsala, Ấn Độ - do ngài Tu viện trưởng Thamthog Tulku Rinpoche làm trưởng đoàn, đã đến thăm Tòa soạn Báo Giác Ngộ. Trong buổi gặp gỡ ấy, ngài Thamthog đã chia sẻ những kinh nghiệm tu tập để có được sự hạnh phúc ngay trong cuộc sống hiện tại. Nay chúng tôi lược ghi lại để giới thiệu cùng bạn đọc.
Mặc dù chúng ta có những nền văn hóa khác nhau, có tông phái và pháp môn tu tập khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, hình thể khác nhau… nhưng trên tất cả, chúng ta đều là đệ tử của Phật, là những người tu học theo giáo lý của Đấng Giác Ngộ, đều hướng đến một mục đích chung là tìm kiếm hạnh phúc, giải thoát cho tự thân và cho tha nhân.
Trong rất nhiều giáo lý mà Đức Phật đã dạy thì giáo lý Duyên khởi là một trong những giáo lý trọng tâm của đạo Phật. Theo tinh thần giáo lý Duyên khởi, tất cả các pháp trên thế gian này đều do các nhân duyên hội tụ mà sinh ra, nương vào nhau mà tồn tại chứ không do một đấng Sáng tạo nào tạo ra cả. Chiến tranh hay hòa bình ở các quốc gia trên thế giới, sự giàu có hay nghèo đói, hạnh phúc hay đau khổ của con người đều do các duyên mà sinh khởi, không phải ngẫu nhiên mà có. Và trong đó, con người là nhân tố đóng vai trò chủ đạo. Có nhiều lúc chúng ta khổ đau mà không hiểu tại sao mình bị khổ đau, không rõ nguyên nhân do đâu, cho nên mình không biết cách giải quyết. Một khi chúng ta đã hiểu được cội nguồn chính yếu của mọi khổ đau của chúng ta là ở nơi chính mình, ở nơi ba nghiệp thân, khẩu, ý của mình, tự mình làm cho mình hạnh phúc và cũng chính mình làm cho mình khổ đau chứ không ai khác, thì chúng sẽ biết phương pháp để đoạn trừ khổ đau và làm tăng trưởng hạnh phúc. Nhờ vậy mà tâm ta được an bình hơn và cuộc sống tươi đẹp hơn.  
Thường thì chúng ta hay đổ thừa trách nhiệm lên người khác đối với những khổ đau của mình. Chúng ta nghĩ do người này làm mình khổ đau, người kia làm cho mình bất an, người nọ làm cho mình nổi cáu… chứ hiếm khi nghĩ là do mình nghĩ bậy, làm bậy, do sự thiếu sáng suốt, do tham sân, chấp ngã trong tâm mình tạo ra; do tâm nghĩ điều xấu, miệng nói lời ác, thân làm việc bất thiện cho nên bây giờ mình chịu quả báo khổ đau. Đến khi nào mình dám nhìn thẳng vào sự thật, dám chịu trách nhiệm về những khổ đau của mình, thấy được những khổ đau ấy là do những bất thiện nghiệp từ thân, khẩu, ý của mình tạo ra thì mình sẽ biết cách điều chỉnh những ý nghĩ, lời nói và hành vi của mình cho phù hợp với Chánh đạo, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức mà Thế Tôn đã dạy, thì lúc đó chúng ta sẽ có được hạnh phúc trong cuộc sống.
Có một lời dạy hết sức quan trọng mà Đức Phật đã dạy cho tất cả mọi người, đó là: Trong cuộc sống, chúng ta cố gắng làm lợi ích cho tất cả muôn loài, dù chúng ta làm gì hay trong bất cứ trường hợp nào cũng đều phải nghĩ đến sự an vui, hạnh phúc của người khác. Nếu như chúng ta không thể đem đến an vui, hạnh phúc cho người khác thì ít nhất là chúng ta không được gây tổn hại đến người khác.
Để hoàn thiện bản thân thì chúng ta phải biết tự kiểm soát chính mình. Từ sáng sớm thức dậy cho đến khi đi ngủ, chúng ta phải nhìn lại xem mình đã có những ý nghĩ gì, đã nói những gì và làm những gì? Xem xem là mình có nói những lời hay, có nghĩ những điều tích cực, có làm những việc tốt không, hay là mình đã nói những lời xấu ác, nghĩ những điều tiêu cực, thâm hiểm và làm những việc gây tổn hại người khác? Chúng ta phải tự quán xét, tự đánh giá mỗi ngày và liên tục như thế thì chúng ta sẽ biết được những gì đem đến hạnh phúc cho mình và người, và những gì gây khổ đau cho mình và người. Và chúng ta cố gắng trong mỗi ngày đều nghĩ những điều tốt, nói những điều hay và làm những việc thiện, loại bỏ dần những nghiệp nhân bất thiện. Đấy chính là phương pháp để chúng ta hành trì. Bởi vì, chỉ có chúng ta mới biết rõ bản thân mình hơn ai hết. Mình nghĩ gì, nói gì và làm gì thì mình đều có thể nhận diện được một cách rõ ràng. Tự kiểm nghiệm bản thân là vấn đề quan trọng nhất để hoàn thiện nhân cách, để tiến triển trong nếp sống tâm linh. Mỗi buổi sáng thức dậy, chúng ta nhìn lại xem mình đang nghĩ những gì, những ý nghĩ tốt sinh khởi nhiều hơn hay những ý nghĩ xấu nhiều hơn. Nếu những ý nghĩ xấu nhiều hơn thì chúng ta cần tìm cách giảm thiểu, nếu những ý nghĩ tốt nhiều thì chúng ta tìm cách phát huy. Rồi chúng ta quán sát, nhận diện những lời nói và hành vi của mình để thanh lọc và điều chỉnh theo chiều hướng tích cực, tốt lành. Nếu chúng ta làm được những việc đó mỗi ngày, kéo dài đến một tháng, hai tháng, hay một năm, hai năm thì chúng ta sẽ thấy có một sự thay đổi lớn trong dòng tâm thức của mình, trong lời nói và hành vi của mình. Và lúc đó chúng ta sẽ sống bình an và hạnh phúc hơn, đồng thời chúng ta đem đến lợi ích cho nhiều người hơn.
Ngày nay, toàn thế giới đang chạy theo vấn đề vật chất, ở Việt Nam cũng thế. Bởi nhiều người nghĩ rằng, khi chúng ta dồi dào về vật chất, có đầy đủ các tiện nghi, các phương tiện hiện đại thì chúng ta sẽ có hạnh phúc. Chính vì thế mà nhiều người cố gắng tạo ra thật nhiều của cải vật chất, cố gắng tích góp thật nhiều phương tiện hiện đại, như là nhà lầu, xe hơi, máy bay, các thiết bị điện tử siêu xịn… Thế nhưng, một khi họ có được những thứ đó rồi thì họ vẫn đau khổ như thường, họ vẫn cảm thấy bất an, cảm thấy căng thẳng, cô đơn, âu sầu, phiền muộn… Tại vì, vật chất chỉ có giá trị tương đối mà thôi, nó không phải là yếu tố quyết định đến hạnh phúc của mỗi người. Hạnh phúc hay khổ đau đều do đời sống nội tâm của con người cả. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta phủ nhận hoàn toàn giá trị của vật chất, chúng ta không cố gắng tạo ra của cải, vật chất để đưa xã hội phát triển. Chúng ta vẫn phát triển công nghệ, vẫn sản xuất vật chất, vì vật chất là điều kiện cơ bản để chúng ta có cuộc sống ổn định, là điều kiện cần để có hạnh phúc. Bên cạnh đó, chúng ta phải dành thời gian để chăm lo đời sống tâm linh của mình, phải nuôi dưỡng tâm thức của mình bằng những dưỡng chất thanh cao, tốt đẹp. Chúng ta phải chăm chút cho đời sống nội tâm của mình, để chúng ta có được sự an bình, hạnh phúc. Nhờ vậy mà chúng ta có thể đem lại an bình, hạnh phúc cho những người thân yêu, bạn bè, đồng nghiệp của mình và những người xung quanh. Nếu chúng ta không có hạnh phúc, nếu tâm chúng ta đầy những khổ đau, muộn phiền thì chúng ta khó lòng đem đến an vui, hạnh phúc cho người khác. Khi chúng ta dồi dào về vật chất, đầy đủ các tiện nghi hiện đại, nhưng tâm chúng ta đầy sân hận, đầy những tham lam, tật đố, đầy kiêu căng, ngạo mạn thì những thứ của cải, vật chất đó vẫn không giúp ích gì cho ta trong việc chuyển hóa tâm mình, không giúp cho ta có được sự bình an ở trong lòng. Chúng ta chỉ có được hạnh phúc khi những tham lam, sân hận, kiêu căng ở trong lòng được giảm thiểu, được chuyển hóa. Nhờ vào giáo pháp của Phật, chúng ta có thể làm được việc này. Vì những phiền não, những tham, sân, si ấy vốn không phải là bản chất của tâm, chúng do duyên sanh, do các yếu tố bên ngoài góp phần tạo nên. Do vậy, chúng ta có thể chuyển hóa chúng nhờ vào con đường Giới - Định - Tuệ mà Đức Phật đã chỉ dạy. Chúng ta phải nhận diện và chuyển hóa những bất thiện nghiệp khi chúng vừa dấy lên trong tâm mình, đừng để cho chúng bộc phát ra bên ngoài, để rồi làm khổ mình, làm hại người.
Xét về phương diện xã hội, tất cả mọi người trong cuộc đời này đều phụ thuộc vào nhau, nương nhau để tồn tại, chứ không ai có thể tồn tại một cách hoàn toàn độc lập được, bởi vì luật duyên khởi mang tính phổ quát, chi phối đến tất cả mọi người, mọi loài. Cũng chính vì mọi người nương vào nhau để tồn tại cho nên hạnh phúc hay đau khổ của người này có sự ảnh hưởng và tùy thuộc vào hạnh phúc hay khổ đau của người khác. Chúng ta không thể nào có được hạnh phúc khi mà những người thân của mình, những người xung quanh mình đang đau khổ. Cho nên, những bậc hiền trí luôn tìm cách làm lợi ích cho người khác, luôn làm cho người khác được hạnh phúc, và khi người khác có hạnh phúc thì chính bản thân những bậc hiền trí ấy cũng được hạnh phúc theo và khi ấy niềm hạnh phúc của họ được nhân lên rất nhiều. Hơn nữa, bản thân mình chỉ là số ít, và mọi người trong xã hội mới là số đông. Chúng ta hãy sống vì hạnh phúc và lợi ích cho số đông, đấy mới là vấn đề quan trọng. Nếu chúng ta vì lợi ích cá nhân mà tổn hại đến lợi ích của tâp thể thì chúng ta khó lòng có được hạnh phúc. Ngược lại, nếu chúng ta lo cho hạnh phúc của số đông thì hạnh phúc của chúng ta sẽ được bền vững hơn, sẽ đến một cách rất tự nhiên và được tăng lên rất nhiều.
Có một thực tế là người nào sống vì cộng đồng, luôn giúp đỡ mọi người, chăm lo cho hạnh phúc của người khác thì người đó thường dễ gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống. Tại vì họ thường giúp đỡ người khác, xây dựng được nhiều mối quan hệ xã hội tốt đẹp, cho nên khi họ làm bất cứ việc gì, hoặc cần đến sự giúp đỡ thì đều nhận được sự giúp đỡ của nhiều người. Và những người như thế thì không những hiện tại họ sống hạnh phúc, an vui, thành công trong cuộc sống mà những kiếp sống tương lai của họ cũng sẽ được hạnh phúc. Còn với những người ích kỷ, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân thì thường khó thành công, khó có được hạnh phúc, và luôn sống trong lẻ loi, đơn độc.
Ngày nay, Phật giáo đã được truyền bá rộng rãi trên khắp năm châu, rất nhiều người phương Tây quay về nghiên cứu và tu học theo giáo lý của Đức Phật. Và theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, giáo lý của đạo Phật ngày càng thể hiện rõ giá trị và vai trò của mình đối với nhân loại, đối với niềm an lạc và hạnh phúc của mỗi người. Kho tàng giáo lý của Phật giáo trở thành bảo vật vô cùng quý giá của toàn nhân loại. Vì thế, những người con Phật như chúng ta cần phải chuyên tâm tu học, phải hành trì miên mật, phải bảo tồn, phát huy và truyền bá Chánh pháp đến với mọi người, nhất là với thế hệ trẻ, để góp phần đem lại hạnh phúc cho muôn loài và tạo dựng nền hòa bình cho thế giới.
Thamthog Tulku Rinpoche - Quảng Trí lược ghi
(Nguồn: Báo Giác Ngô, số 639, số đặc biệt mừng Phật đản, ra ngày 28-4-2012)              

Tâm và Tiền

Tiền là một vấn đề luôn đè năng tâm trí ta. Bất luận là ta đang ở trong tình cảnh nào, mối liên hệ của ta với tiền bạc vẫn thường đè nặng lên ta. Và đối với những người chuyên tâm để sống có chánh niệm như chúng ta thì mối bận tâm về tiền bạc vẫn không giảm đi.
Chánh niệm giúp ta trau dồi những phẩm chất của sự chú ý để ta có thể đón nhận trọn vẹn và sẵn sàng tiếp cận với những gì diễn ra trong cuộc sống của ta. Tuy nhiên, khi chúng ta giáp mặt với những khoảnh khắc quan trọng liên quan đến tài chính, như là: cuốn sổ thanh toán bằng séc đã dùng hết, đưa ra quyết định đầu tư, yêu cầu mượn tiền, mong muốn một cái gì đó vượt ngoài khả năng của ta, hoặc lướt trên thị trường chứng khoán biến động mạnh,… thì những khả năng chánh niệm mà chúng ta có được một cách liên tục trong những lúc khác có thể biến mất. Những lúc như thế, chúng ta có thể dễ dàng chạy theo những cảm xúc vô thức và những hành vi dẫn đến đau khổ.
May mắn thay, cùng một mức độ mà tiền bạc đã đem đến cho cuộc sống của ta đầy những thách thức, khó khăn thì có một con đường có thể đưa chúng ta đến với cái nhìn sâu sắc hơn, giúp chúng ta có được cuộc sống dễ dàng hơn. Trong 25 năm, tôi đã hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân hướng đến mối quan hệ dễ chịu và hiệu quả hơn với tiền bạc, tôi nhận ra rằng, mặc dù giữa chúng ta có sự khác biệt lớn, nhưng chúng ta có nhiều điểm chung về lý do tại sao chúng ta phải vật lộn với tiền bạc và làm sao để chúng ta có thể trải nghiệm sự yên bình sâu sắc hơn về nó. Dưới đây là 3 phần trong sự thực tập mà ta có thể dùng để nâng cao giá trị sống trong mối liên hệ của ta với tiền bạc.
Nhìn vào bên trong
Mỗi người chúng ta có một câu chuyện đặc trưng liên quan đến tiền bạc mà chúng ta mang theo và trình bày với thế giới bằng vô số cách. Những câu chuyện ấy có thể trở thành những mô hình mặc định không được đánh giá và chúng kiểm soát vấn đề tài chính của chúng ta. Để có chánh niệm về tiền bạc có nghĩa là trước hết ta phân tích những nguồn gốc của các câu chuyện mà chúng ta nói với chính mình. Chúng ta không thể nào vượt qua những thứ mà chúng ta không thể nhìn thấy. Hãy xem xét vai trò của những sự ảnh hưởng sau đây:
- Sự thừa kế của ta
Ta là sản phẩm của tổ tiên nhiều đời và gia đình trong hiện tại của mình, và còn là sản phẩm của nền tảng văn hóa và giai cấp, địa vị của ta nữa. Những thông điệp, những câu châm ngôn, và những câu chuyện hoang đường về tiền bạc được truyền đến ta một cách công khai và tinh tế. Có những câu chuyện và những thông điệp mà ta được nghe liên tục khi trưởng thành hay không? Điều mà ta nói “đúng sự thật” về tiền bạc là gì? Bao nhiêu là "đủ" cho gia đình của ta? Ta đã kế thừa được thái độ gì đối tiền bạc từ tầng lớp của ta? Ta đã được dạy những gì về người thuộc các tầng lớp khác? Làm sao ta vẫn có thể bày tỏ sự trung thành với lịch sử này?
- Bản ngã ham muốn của ta
Tất cả chúng ta đều sớm có những niềm tin về tiền bạc mà chúng ta đã chấp nhận chúng một cách dễ dãi. Những niềm tin này có thể điều khiển hành vi của chúng ta, lọc lừa những thứ chúng ta có thể nhìn thấy. Chúng tạo ra một trạng thái tâm lý khiến chúng ta không quan sát trọn vẹn những thứ diễn ra trong cuộc sống của mình. Lòng tham muốn không biết chán, không biết đủ khiến cho chúng ta dễ bị tổn thương đối với những ước mơ và lời hứa hão huyền về sự sung túc. Sự túng thiếu có thể đưa đến những hình dạng thô tháo của tật háu ăn. Sự ham muốn và sự ác cảm đã thể hiện trong mối quan hệ của ta với tiền bạc như thế nào? Có phải ta đã bị nhận nhầm một số điều ham muốn của mình, xem chúng như là đặc tính của bản thân?
- Cái bản ngã ẩn nấp của ta
Ta đang dấu điều gì trong mối liên hệ với tiền bạc? Sự đánh giá nào làm cho ta sợ? Những người giàu thường che giấu sự giàu có của họ, cũng giống như những người phải vật lộn để mưu sinh thì che dấu nợ nần của họ. Khi chúng ta che giấu sự thật, chúng ta trở thành "hạng người lừa đảo". Trong cả hai phương thức, ta đều có thể xuyên tạc sự thật về tiền bạc trong cuộc sống của ta. Và điều đó khiến ta không có được mối những quan hệ đích thực.
Những câu chuyện về tiền bạc của chúng ta rất là mạnh mẽ, chúng có thể giữ cho chúng ta không bị trói chặt vào trong sự ảo tưởng hoặc hướng chúng ta đến với sự hiểu biết sâu sắc. Hãy dùng ý thức để soi rọi vào những vùng vô thức ấy. Một khi ta hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ta thì ta có thể bắt đầu hành động với nhận thức sâu sắc hơn. Đôi khi tất cả chúng ta nhầm lẫn giữa câu chuyện của mình với vấn đề chúng ta là ai. ‘Câu chuyện’ được hiểu là đang làm cho người ta tin theo.
Nhìn ra bên ngoài
Những điều kiện bên trong của chúng ta tạo ra những lỗ hổng mà xã hội phương Tây đã đặt ra để giải quyết. Thật khó để không bị chi phối bởi vô số các giải pháp khắc phục khủng hoảng tài chính và các quy định tấn công chúng ta dồn dập từ bên ngoài. Tuy nhiên, những "giải pháp" đó chỉ có thể định hình và củng cố hiện trạng của chúng ta trong phạm vi hạn hẹp mà thôi chứ không thể khuyến khích chúng ta đưa ra vấn đề đối với những giả định đằng sau chúng.
- Những kế hoạch của ta
Các chuyên gia tiền tệ truyền thống khuyên chúng ta thiết lập những mục tiêu đầy tham vọng, đưa ra những ngân sách cụ thể, và phát triển những kế hoạch tài chính dài hạn. Sự chỉ dẫn của họ chú trọng đến việc kinh doanh nhằm chuẩn bị cho một tương lai không biết trước và bỏ qua giây phút hiện tại, và được dựa trên những giả định rằng: Tất cả chúng ta đều muốn được giàu có, muốn nghỉ hưu sớm, và muốn có thật nhiều thứ xa xỉ... mà không phải đóng thuế. Là người trưởng thành có nghĩa là có một danh sách dài về các mục tiêu tập trung vào vấn đề "hơn nữa". Sự an ninh được đo lường hoàn toàn dựa trên tài chính. Ngay cả lời khuyên được cho là "sáng suốt" nhất cũng dựa trên những giả định này.
- Sự chi tiêu của ta
Trong nền văn hóa của chúng ta, có một ít thói quen đã ăn sâu như là: mong muốn thành đạt, và thích thú trong sự ganh đua để có được món hời, đam mê thành công, hoặc đầu tư một cách khôn ngoan. Những cá tính và niềm vui của chúng ta trở nên gắn bó chặt chẽ với nơi mà chúng ta đặt tiền vào và những gì nơi ấy nói về chúng ta. Chúng ta nuôi lớn những thị hiếu mà chúng cần phải được thể hiện và thỏa mãn, và chúng ta thể hiện dấu vân tay độc đáo của mình với thế giới thông qua những thứ chúng ta lựa chọn, bao gồm cả những sự đầu tư của chúng ta. Ngay cả với yoga, thiền định, và sự giản dị cũng đã bị thương mại hóa. Chúng ta cần phải giữ chánh niệm, tiêu thụ là một lĩnh vực mà chúng ta thường thiếu chánh niệm về nó.
- Thu nhập của ta
Chúng ta không phải là những gì chúng ta kiếm được. Bởi vì chúng ta có thể tính phí 100 Mỹ kim một giờ không có nghĩa là chúng ta nên làm, hoặc là chúng ta khó có thể tính phí 100 Mỹ kim một giờ không có nghĩa là chúng ta không nên làm. Nếu có một nhà tuyển dụng có tiềm năng hỏi về mức lương mà chúng ta yêu cầu, thì mức lương thấp nhất mà chúng ta đưa ra là bao nhiều? Chẳng phải một mức lương hàm ý một bậc lương cao nhất sao? Ta có một mức lương cao nhất "vừa đủ" không? Đồng tiền đã bị gắn kết một cách sai lầm với sự thành công, giá trị và quyền được hưởng. Chính từ sự lúng túng này mà chúng ta hiếm khi tư duy một cách rõ ràng về những gì chúng ta thật sự cần và coi trọng.
Cần phải có sự tập trung cao độ để gỡ rối những vấn đề đã khiến cho suy nghĩ và hành vi của chúng ta liên quan đến tiền bạc trở nên phức tạp. Về phương diện lý trí, chúng ta có thể biết rằng sự an ninh không tùy thuộc vào "vật chất", rằng chúng ta không phải là những gì chúng ta sở hữu, và rằng cuộc sống của chúng ta không đo bằng những gì chúng ta kiếm được. Tuy nhiên, điều này ăn sâu và được tăng cường hầu như ở khắp mọi nơi. Chúng ta đang gánh chịu sức ép mạnh mẽ của những áp lực xã hội về tiền bạc, và để thoát ra khỏi sức ép ấy đòi hỏi chúng ta phải có sự nỗ lực mạnh mẽ tương ứng.
Nhìn vào bức tranh toàn cảnh
Thời gian, năng lượng, và tình cảm là những hình thức của tiền tệ, cũng như đồng tiền. Những gì chúng ta làm với những nguồn tài nguyên quý giá này nói lên một điều chắc thật rằng chúng ta là ai và cái gì quan trọng đối với chúng ta. Chúng ta khẳng định và tái khẳng định chính mình trong việc phân bổ các loại tiền tệ của chúng ta. Những mục đích rõ ràng của chúng ta có thể hình thành một chuẩn mực cho sự tự do tài chính của chúng ta, cũng giống như hơi thở đi vào và đi ra khỏi cơ thể chúng ta có thể là chuẩn mực cho sự thực tập chánh niệm.
- Những giá trị của ta
Cũng giống như cơ thể của chúng ta sắp xếp xung quanh cột sống, Vấn đề tài chính của chúng ta cần phải được sắp xếp theo một bản mẫu về những giá trị của chúng ta. Chúng ta phải luôn khám phá, xác định và kiểm tra các giá trị của mình.
Ta thực sự đại diện cho cái gì? Những nguyên tắc và niềm tin nào ta muốn thể hiện trong cuộc sống của mình? Những nhiệm vụ nào ta muốn ưu tiên? Giới hạn vừa đủ của ta là bao nhiêu? Ta muốn thể hiện những khác biệt gì? Cái giá đích thực về sự nhiều hơn/ít hơn mức vừa đủ đối với cuộc sống, với các mối quan hệ của ta, và với thế giới là gì?
Kết nối những giá trị cốt lõi của chúng ta lại với nhau không phải là một việc đơn giản. Nó đòi hỏi phải có sức mạnh và sự khiêm tốn, và đặt chúng ta vào vị thế phải có tinh thần tự chịu trách nhiệm và có trách nhiệm.
- Tiền bạc của ta
Hãy nhìn rõ ràng vào phương thức mà tiền bạc đã đến với cuộc sống của ta và nơi nó ra đi. Sự thật không trau chuốt về lối mòn tiền bạc của ta nói lên những điều quan trọng. Đấy là những thông tin chi tiết về các vấn đề. Gom mỗi phần phân bổ lại bên mô hình giá trị mẫu của ta và kiểm tra mức độ mâu thuẫn giữa chúng hoặc là xem mức độ tiến triển của các giá trị. Những giá trị của ta hiển thị như thế nào nơi sự thu nhập của cá nhân? Chúng không thể hiện ở điểm nào? Ta có giữ được tiền mà không sợ hãi hay không? Ta có cho đi nhiều hơn ta có thể thực sự đủ khả năng hay không? Có phải ta có nhiều hơn nhu cầu của ta hay không? Hay là ít hơn nhu cầu của ta?
Cuối cùng, liệu pháp đối với việc dễ bị ảnh hưởng trước sự lôi kéo của những vấn đề bên trong của ta và sức hút của các thông điệp về tiền bạc trong xã hội có thể nằm ở nơi việc biết một cách rõ ràng về những gì chúng ta đại diện cho, và sự mong muốn thể hiện điều đó trong mọi quyết định liên quan đến tài chính mà chúng ta đưa ra.
- Sự lựa chọn của ta
Hãy ghi vào những nơi dễ thấy về một vài trong số các giá trị của mình, như là viết chúng trên cuốn sổ séc của ta, trên màn hình máy tính, trên ví tiền và trên thẻ tín dụng. Nhắc nhở chính mình về những gì ta đại diện cho. Hãy thử tạo ra sự cân bằng cho cuốn sổ séc của ta mỗi tháng. Hãy rộng lượng! Hãy ban tặng thứ gì đó có ý nghĩa. Bắt đầu một cuộc trò chuyện tốt đẹp mỗi ngày. Bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả những con đường đưa ta đến sự giàu có. Hãy minh bạch với bạn bè, phát triển cộng đồng. Thể hiện lòng từ bi bằng sự đóng góp nhiệt tình. Ta có thể làm gì nữa để khởi đầu sự dịch chuyển tiền của một cách có chánh niệm trong cuộc sống của ta?
Nếu chúng ta xem mối liên hệ có chánh niệm với tiền bạc như là một kênh thông tin để học tập thì chúng ta có thể thân thiện với những gì chúng ta đã làm ngơ, có thể mở ra những chuyện khó tin mà chúng ta đã che dấu và sống một cuộc sống trọn vẹn hơn là những gì ta muốn và thế giới cần. Để cho tiền bạc nằm ở phía trước và trung tâm trong sự chú ý của ta, chúng ta có thể hít một hơi thở sâu mỗi khi chúng ta đối mặt với khoảnh khắc quan trọng liên quan đến tài chính, và khám phá những khả năng mới mà ta hành xử với tiền bạc để minh họa cho những gì ta thực sự muốn thể hiện trong cuộc sống của mình.
Kristi Nelson
Minh Nguyên dịch
(Dịch từ bài Mind over Money, tạp chí Mindful: Living with awareness and compassion, tr.30 - 33)
(Nguồn: Nguyệt San Giác Ngộ, số 189, ra tháng 12/2011)

Hoàng đế A Dục, một mẫu người dung hòa giữa các tôn giáo trong thời cổ đại

Chân dung vua A Dục
Khi vừa mới nắm được quyền binh, vua A Dục đã tỏ ra là một bạo chúa. Lớn lên trong đẳng cấp chiến binh Kshatriya, hoàng tử trẻ A Dục đã nổi tiếng là một người hung bạo, một chiến binh, một thợ săn tàn nhẫn. Mặc dù là một người trẻ nhất trong số những người con trai của vua Tần Bà Sa La, nhưng hoàng tử A Dục đã tỏ ra là người bảo vệ tốt nhất của cha mình, làm chủ cả hai vấn đề: đàm phán và là bàn tay sắt để giữ cho các vùng hẻo lánh được bình yên. Hoàng tử A Dục đã thuyên chuyển các anh em của mình, thậm chí giết hại một số người, và đã xây dựng lực lượng đồng minh đủ mạnh tại triều đình, cho nên khi vua cha băng hà, người mà vua Tần Bà Sa La mong muốn kế vị đã bị soái ngôi và hoàng tử A Dục đã cướp ngôi. Gần một thập kỷ sau đó, ông đã hành quân qua phía Tây và phía Nam châu Á, trở thành vị vua mạnh mẽ nhất và đáng sợ nhất lúc bấy giờ.
Suốt tám năm, vương triều của vua A Dục đã lặn ngập trong cuộc chiến tranh đẫm máu để chinh phục tiểu quốc Kalinga (tương đương với bang Orissa ngày nay). Theo lời thú nhận của vua A Dục, cuộc chiến này đã khiến cho hơn 150.000 người dân Kalinga bị trục xuất, 100.000 người bị thiệt mạng và rất nhiều người dân Kalinga đã qua đời vì nhiều nguyên nhân khác.
Một sự cải đổi diệu kỳ
Câu chuyện cải đạo của vua A Dục hầu như chưa từng có trong biên niên sử của lịch sử tôn giáo. Trong vòng một năm sau cuộc chiến xâm lược vùng Kalinga, hoàng đế A Dục đã cải đạo, đi theo Phật giáo, quy y Tam bảo và chuyển đổi nhân cách hoàn toàn, từ một vị bạo chúa sang một nhà vua hiền triết, nhân đức. Vua đã thay đổi để xứng đáng là một vị hộ pháp. Vua đã định hình và tạo dựng một nền văn hóa hòa bình, quan tâm và chăm lo cho tất cả chúng sanh. Trên lộ trình đó, vua đã hỗ trợ đắc lực cho việc phát huy và truyền bá đạo Phật ở trong nước cũng như ở nước ngoài.
Điều gì đã tạo ra sự chuyển biến đáng kinh ngạc như thế? Có rất nhiều lời lý giải cho vấn đề này. Có một câu trả lời mang tính huyền thoại nhưng thường được trích dẫn, đó là những lời ăn năn, hối cải của vua: “Tôi đã làm gì? Nếu đây là một chiến thắng, thế thì sự thất bại là gì?  Đây có phải là một sự chiến thắng hay là thất bại? Đây là công bằng hay bất công? Đây là sự dũng cảm hay là sự tháo chạy? Có dũng cảm chăng khi giết hại rất nhiều trẻ em và phụ nữ vô tội? Phải chăng tôi đã làm điều đó để mở rộng lãnh thổ và để được thịnh vượng, hay là để phá hủy vương quốc và sự hưng thịnh của người khác? Nhiều người đã mất chồng, một số thì mất cha, một số người thì mất con, và thậm chí là một số người mất luôn cả những đứa con chưa chào đời.... Những mảnh vụn của các thi thể này là gì? Chúng là dấu hiệu của sự chiến thắng hay thất bại? Những con chim kên kên, quạ, đại bàng kia là sứ giả của thần chết hay là của thế lực ác?”.
Dù chi tiết về nó là gì đi nữa thì tham vọng bạo lực của vua A Dục đã chuyển đổi thành sự hỗ trợ nhân đạo đối với người dân trong nước và những người bên ngoài lãnh thổ Ấn Độ. Trong suốt 30 năm sau đó, vua đã trở thành một vị vua nhân đức mà người dân hằng mơ ước trong nhiều thế kỷ, chính vì thế mà lịch sử về cuộc đời của vua A Dục đã trở thành một huyền thoại. Tất nhiên, trong gần 2.000 năm, những gì mà chúng ta được biết về vua A Dục là thông qua những văn bản, những kinh sách của Phật giáo được viết vào khoảng 400 hay 600 năm sau khi vua băng hà. Cộng đồng Ấn Độ giáo, tôn giáo mà vua đã từ bỏ, đã không hề quan tâm đến ông, mãi cho đến năm 1915, khi mà vấn đề nan giải về ngôn ngữ đã được giải quyết và di sản lịch sử của vua A Dục cuối cùng cũng đã được nhiều người quan tâm.
Câu chuyện lại quay ngược trở về năm 1828, khi ông James Prinsep, một nhà khảo cổ học, một triết gia lỗi lạc người Ấn-Anh đã tìm ra được cách chuyển dịch ngôn ngữ Brahmi cổ đại. Brahmi là ngôn ngữ đã được sử dụng để khắc ghi trong 33 “sắc lệnh của vua A Dục” mà chúng ta có ngày hôm nay, những sắc lệnh ấy được khắc trên đá, có những trụ đá của vua A Dục nặng đến 50 tấn và cả trên những tảng đá lớn, cũng như trên một số vách động. Một số sắc lệnh thì khá ngắn, nhưng một số khác thì dài đến hàng trăm từ. Chúng được khắc đi khắc lại nhiều nơi trên khắp đất nước. Chẳng hạn như bộ sưu tập 14 sắc lệnh ở Girnar đã được tìm thấy tại năm địa điểm và một phiên bản rút gọn tại hai điểm khác.
Trong các thông điệp mà đức vua gởi đến thần dân đó, chúng đều có tính thân mật hơn là trịnh trọng. Vua A Dục nói đến bản thân mình là “người thân của các vị thần, là vua Piyadasi”, có nghĩa “vua là người quan tâm đến mọi người với tình cảm chân thành”. Mãi cho đến năm 1915, khi những sắc lệnh cuối cùng được phát hiện, chúng ta thấy những bản văn ấy không chỉ nói đến vua Piyadasi, mà còn nói đến vua A Dục, xác nhận sự liên quan của vua đến tất cả những sắc lệnh ấy. Những điều đó đã được đưa vào huyền thoại và được lưu hành trong lịch sử. Vua A Dục nổi tiếng là một nhà lãnh đạo đấu tranh cho bình đẳng và công bằng xã hội, thực hiện chính sách khoan dung với các tôn giáo và hơn thế nữa. HG Wells đã viết: “Giữa hàng chục ngàn tên tuổi của các quốc vương đã tạo thành các dòng lịch sử, quyền lực, sự dũng cảm, sự cao quý và thanh bình của họ, tên tuổi của vua A Dục tỏa sáng, và tỏa sáng như là một ngôi sao đơn lẻ”.
Sự khám phá ấy đã đánh thức dân tộc Ấn Độ, giúp họ biết về kho tàng lịch sử ẩn giấu của họ. Vào giữa thế kỷ 20, danh tiếng của vua A Dục đã vang dội trở lại khắp vùng Nam Á như những gì mà đức vua đã có hơn 2.200 năm trước. Ngay giữa trung tâm của quốc kỳ Ấn Độ là hình bánh xe Pháp luân của vua A Dục, một hình ảnh được tìm thấy trên một số sắc lệnh của vua, biểu trưng cho đức hạnh. Mặc dù đã trở thành một Phật tử, nhưng những thành tựu của vua A Dục trong cương vị một nhà lãnh đạo quốc gia là niềm tự hào dân tộc của Ấn Độ ngày nay.
Chính các sắc lệnh của vua đã cho chúng ta một cái nhìn sơ bộ về thế giới của vua A Dục, về những gì mà vua mong muốn đem lại cho nhân loại. Chúng hướng đến tính thiết thực. Trong phần đầu của các bia ký ở Girnar có ghi rằng: “Trước đây, trong bếp của “người thân của các vị thần”, vua Piyadasi, mỗi ngày có đến hàng trăm, hàng ngàn động vật bị giết để làm cà-ri. Nhưng bây giờ, nhờ vào những lời dạy của Phật, chỉ có ba sinh vật, hai con công và một con hươu bị chết, và con hươu thì không phải lúc nào cũng có. Và có khi ngay cả ba sinh vật ấy cũng không bị giết”. Vua khuyến khích mọi người tập ăn chay dần dần.
Điều làm cho vua A Dục hấp dẫn một cách kỳ lạ giữa các nhà cải cách vĩ đại trong lịch sử là bởi ông thực sự có sức mạnh để thể hiện tầm nhìn của mình. Một nhà quản lý có tính thực tế, vua đã đưa những hệ thống trách nhiệm vào trong các cải cách của mình. Từ những sắc lệnh của vua chúng ta có thể thấy rõ điều đó.
Vua đã phát huy tinh thần bình đẳng, xây dựng nền hòa bình, công bằng xã hội, tôn trọng quyền phụ nữ, tự do tôn giáo, phát triển giáo dục, khoa học, đối xử nhân đạo với các tù nhân, phát triển bền vững và xây dựng hệ thống chăm sóc y tế miễn phí rộng khắp cho các loài động vật, chim muông, và lẽ đương nhiên là cho cả con người.
Vua phát triển các dự án về công trình công cộng chính yếu, bao gồm bệnh viện, phòng khám và các trường học. Vua còn cho xây dựng các nhà nghỉ giữa những khu dân cư, cùng với những giếng nước, cây ăn quả và cây che mát để cho khách bộ hành dừng chân khi mệt mỏi.
Vua ra lệnh cấm chặt phá rừng, nhất là cấm săn bắn, và tìm cách cải thiện đời sống của người nô lệ.
Đối với xã hội, nhà vua kêu gọi người dân thể hiện thái độ tôn trọng, khoan dung và tiêu xài có điều độ.
Đối với cá nhân, vua chủ trương sống tử tế, tự kiểm điểm, trung thực, biết ơn, trung thành, và tự làm chủ bản thân. Vua khẳng định rằng: Sức mạnh của tình thương yêu vĩ đại hơn sức mạnh của thanh kiếm.
Một đế chế thân thiện với các tôn giáo
Sự cải đạo của vua A Dục đã làm thay đổi cuộc sống của chính vua và của xã hội Ấn Độ. Những sắc lệnh của vua nhắm đến việc bãi bỏ các nghi lễ, giáo điều và hạn chế các lễ hội, phát huy việc vận dụng những giá trị đạo đức của Phật giáo vào trong cuộc sống hàng ngày. Chương trình nghị sự rộng lớn của vua đã thể hiện sự hiểu biết của vua về Phật giáo. Về bản chất, Phật pháp dạy mọi người thương yêu tất cả mọi chúng sinh, nói lời chân thật, tôn trọng và bao dung. Để thúc đẩy sự phát triển Phật giáo, vua A Dục đã xây dựng hàng ngàn bảo tháp trên toàn quốc. Vua còn đưa các vị Tăng sĩ, các vị Giáo thọ sư đi đến các vùng như Syria, Iran, Ai Cập, Hy Lạp, Ý, Nepal, Tây Tạng, Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, và Việt Nam. Vua còn đưa con gái của mình là Ni sư Sanghamitta, và con trai là Đại đức Mahinda đến Tích Lan để hoằng dương Phật pháp. Về cơ bản, những nỗ lực truyền giáo của A Dục đã biến Phật giáo truyền thống thành một tôn giáo cải cách trẻ trung, một tôn giáo mang tầm vóc quốc tế.
Ngày nay, việc truyền bá Phật giáo đến nhiều nơi nghe có vẻ bình thường, nhưng sự truyền bá của vua A Dục không giống với định kiến của chúng ta về một nhà truyền giáo. Vua A Dục không phải là một triết gia, cũng không phải là một tu sĩ, nhưng vua vẫn tiến hành việc cải thiện đời sống hằng ngày của nhân dân theo những giá trị của đạo Phật. Đồng thời, vua thực hiện chính sách tôn trọng các tôn giáo khác một cách nghiêm túc như đối với Phật giáo vậy. Vua kêu gọi tất cả mọi người tôn trọng lẫn nhau, không phân biệt tôn giáo. Vua còn khuyến khích những nhà giáo dục không phải là Phật tử, và yêu cầu tất cả các trường học dạy cho học sinh biết đánh giá cao tất cả các tôn giáo. Những người theo Ấn Độ giáo, Kỳ Na giáo, và các tôn giáo khác đều được trọng dụng dưới triều đại của vua A Dục ngang bằng với những người Phật tử. Vua nhận định rằng: Làm tổn hại tôn giáo của người khác là tự hủy hoại tôn giáo của chính mình.
Nền văn minh mới mẻ của vua A Dục đã bị phai nhạt dần và trở thành huyền thoại trong vòng 50 năm sau khi vua băng hà. Và Ấn Độ giáo dần dần chiếm ưu thế ở Ấn Độ; Phật giáo thì phát triển bên ngoài biên giới của Ấn Độ, tại những vùng đất mà trước đây vua A Dục đã gửi các đoàn truyền giáo đến.
Và thế rồi, 22 năm sau ngày “Hội nghị Các tôn giáo trên thế giới” tổ chức vào năm 1893, bức màn của lịch sử đã được vén lên sau hơn hai thiên niên kỷ, làm lộ ra một nhà lãnh đạo toàn cầu, người đã xây dựng được một nền văn hóa hòa bình, có tính xây dựng và tôn trọng sự tự do tín ngưỡng của các tôn giáo kéo dài gần một thế kỷ. Thành tựu của vua A Dục là sự thúc đẩy cho những ai có những ước mơ tương tự về tương lai của nhân loại. Tất cả chúng ta đều cần phải học tập các sắc lệnh của vua A Dục. 
Harish Singhal và Paul Chaffee (Theo The Interfaith Observer, 10-2011)
Minh Nguyên dịch
(Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ số 188, ra tháng 11/2011)

Nói xấu người khác: Những hậu quả và cách chuyển hóa

“Tôi nguyện không nói lỗi lầm của người khác”. Trong truyền thống Phật giáo, đây là một trong những lời nguyện của Bồ tát. Đối với những vị tu sĩ thọ Cụ túc giới, một nguyên tắc tương tự được đề cập đến trong lời phát nguyện là không nói lời phỉ báng. Điều này cũng được nhắc đến trong lời khuyên của Đức Phật đối với tất cả mọi người để tránh 10 bất thiện nghiệp, đó là bất thiện nghiệp thứ năm: nói những lời gây bất hòa, chia rẽ.
Nhiều người có thói quen ưa nói lỗi lầm của người khác. Và đôi khi chính họ không nhận thấy thói quen ấy và chỉ nhận diện được nó sau khi đã nói xong. Vậy thì động cơ ở đằng sau việc nói lỗi lầm của người khác, đằng sau xu hướng muốn hạ thấp người khác là gì? Một trong số những minh sư của tôi, ngài Ngawang Dhargye đã từng nói: “Quý vị ngồi lại với nhau và nói về lỗi lầm của một người khác, về những việc làm sai trái của người đó. Thế rồi quý vị tiếp tục thảo luận về những sai phạm và những phẩm chất tiêu cực của người khác, bởi vì quý vị tự thừa nhận với nhau rằng quý vị là những người tốt nhất trên thế giới”.
Khi tôi nhìn sâu vào bên trong, tôi nhận thấy rằng ngài Ngawang Dhargye đã nói đúng. Bị nung nấu bởi cảm giác bất an, tôi đã nghĩ sai rằng nếu người khác sai, xấu, đầy khuyết điểm, theo phép so sánh, thì tôi phải là người đúng, tốt và có năng lực. Chiến thuật hạ nhục người khác để tạo dựng lòng tự trọng của mình theo cách này rất khó có kết quả.
Lúc chúng ta tức giận người khác cũng là lúc chúng ta thường nói xấu họ. Trong trường hợp này chúng ta có thể nói lỗi của người khác vì một vài nguyên do khác nhau. Đôi khi chúng ta nói xấu người khác để kéo mọi người đứng về phía mình. Chúng ta nghĩ rằng, nếu ta kể cho mọi người nghe về sự tranh luận giữa ta với anh A rồi thuyết phục mọi người rằng anh A sai và mình đúng. Như thế thì mọi người sẽ đứng về phía chúng ta. Chính vì ý nghĩ rằng: “Nếu mọi người nghĩ mình đúng thì chắc hẳn là mình đúng”. Việc tự nghĩ rằng mình đúng như thế ấy là một việc làm kém cõi trong khi chúng ta không chịu dành thời gian để đánh giá một cách trung thực đối với những việc làm và động cơ của chúng ta.
Có khi chúng ta nói xấu người khác vì chúng ta ganh ghét họ. Chúng ta muốn được mọi người tôn trọng và đánh giá cao như người kia vậy. Từ trong sâu thẳm chúng ta nghĩ rằng: “Nếu mọi người thấy những phẩm chất xấu của người mà mình nghĩ là tốt hơn mình thì thay vì tôn trọng và giúp đỡ người đó, họ sẽ khen ngợi và hỗ trợ mình”. Chiêu bài mà chúng ta dùng để giành lấy sự tôn trọng và đánh giá cao của người khác theo cách này có rất khó mang lại hiệu quả.
Nói xấu người khác đem đến những hậu quả gì? Trước hết, chúng ta sẽ được biết đến như là một người thường gây ra sự bất hòa. Người ta sẽ không muốn tâm sự với chúng ta vì họ sợ là chúng ta sẽ nói với người khác, thêm thắt những lời đánh giá của ta khiến cho họ bị xem là không tốt. Theo kinh nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy rằng người nào hay nói xấu người khác với tôi thì chắc hẳn họ sẽ đi nói xấu tôi với người khác. Hay nói cách khác, tôi không tin tưởng những ai thường hay phê bình người khác.
Thứ hai, chúng ta phải đối mặt với người bị chúng ta nói xấu khi họ phát hiện ra những gì chúng ta đã nói, và phiền phức hơn là lúc họ nghe được những gì chúng ta đã nói xấu về họ thì những điều đó đã bị phóng đại lên nhiều lần. Người đó có thể nói với người khác về lỗi của mình để trả đũa.
Thứ ba, một số người có thể sẽ bị kích động khi nghe nói về lõi của người khác. Chẳng hạn, nếu một người ở trong văn phòng hoặc trong nhà máy nói xấu sau lưng người khác, mọi người ở tại nơi làm việc có thể sẽ tức giận và công kích người đã bị nói xấu. Điều này có thể sẽ làm dấy lên việc nói xấu sau lưng người khác ở sở làm và gây ra tình trạng bè phái. Điều này gây tổn hại đến một môi trường làm việc hòa hợp.
Thứ tư, chính bản thân ta cũng không có hạnh phúc khi mình luôn phanh phui lỗi của người khác. Khi chúng ta tập trung vào những điểm tiêu cực, hoặc là những sai lầm, chính tâm của chúng ta cũng không có an vui. Những ý nghĩ rằng người này xấu, người kia không tốt,... thường không có lợi cho tinh thần của chúng ta.
Thứ năm, khi ta nói xấu người khác tức là chúng ta đã gây ra tác nhân để cho người khác nói xấu mình. Điều này có thể xuất hiện ngay trong đời này nếu người mà ta phê bình muốn hạ nhục mình, hoặc có thể xuất hiện trong tương lai khi mình bị người khác buộc tội một cách vô lối hoặc là bị vu oan. Khi chúng ta là người nghe những lời nói thô tục, chúng ta cần nhớ rằng đấy là kết quả từ hành động của chính chúng ta, chúng ta đã tạo ra nhân, nay đã đến lúc phải nhận quả. Chúng ta đã gây ra sự tiêu cực ở trong vũ trụ và trong tâm thức của mình, bây giờ nó trở lại với chúng ta. Không có lý do gì để giận hay buộc tội người khác khi chúng ta là người đã tạo ra nguyên nhân chính yếu đối với rắc rối của mình.
Tuy nhiên, có một số trường hợp có vẻ như là nói lỗi của người khác nhưng lại là cần thiết, nên nói. Mặc dù những trường hợp này rất giống với việc phê bình người khác, nhưng thực ra thì chúng không giống nhau. Điểm khác nhau ở đây là gì? Đấy chính là động cơ của ta. Nói lỗi của người khác thường là có ác tâm ở bên trong và thường bị thúc đẩy bởi động cơ ích kỷ. Bản ngã của ta muốn có được điều gì đó từ việc nói xấu người khác, nó muốn được tốt bằng cách hạ nhục người khác. Ngược lại, sự bàn thảo chính đáng về những lỗi lầm của người khác thường xuất phát từ sự quan tâm giúp đỡ và tâm thương yêu, chúng ta muốn làm rõ sự tình, ngăn chặn nguy hại, hoặc là muốn giúp đỡ. Chẳng hạn như khi chúng ta phải viết thư giới thiệu cho ai đó mà người ấy không được tốt lắm, chúng ta phải trung thực, phải đề cập đến những ưu điểm cũng như nhược điểm của anh ta để cho người chủ tương lai hoặc là chủ nhà của họ có thể quyết định xem người đó có thể làm những gì mà họ mong muốn hay không. Tương tự như vậy, chúng ta có thể phải báo trước về những thói quen của ai đó để cảnh báo những rắc rối có nguy cơ xảy ra. Trong cả hai trường hợp này, động cơ của ta là không phải để phê bình người khác, cũng không phải để thêm thắt những điều mà người đó không có. Chúng ta chỉ muốn đưa ra một lời diễn tả không có thành kiến về những gì chúng ta thấy mà thôi.
Đôi khi ta nghi ngờ rằng việc nhìn nhận của chúng ta về những tiêu cực của một ai đó có thể bị hạn chế, bị định kiến, cho nên ta nói với một người bạn mà người bạn đó không hề biết gì về người kia, nhưng người bạn đó có thể giúp ta nhìn thấy những khía cạnh khác. Điều này đem đến cho ta những ý tưởng, quan điểm có tính xây dựng, tích cực hơn và giúp cho ta biết cách để ứng xử với người kia. Người bạn của ta cũng có thể chỉ cho ta thấy những điểm nút của mình - những sự phản kháng và các vấn đề tế nhị - những điều mà ta đang phóng đại về điểm yếu kém của người khác, nhờ vậy mà ta có thể điều chỉnh cho phù hợp.
Có khi chúng ta không rõ về những việc người khác làm nên nhờ một người bạn - là bạn của mình và người đó - tư vấn để biết thêm về hoàn cảnh người đó, và từ đó đánh giá, ứng xử với họ một cách hợp lý. Hoặc là chúng ta phải tiếp xúc với một người mà mình nghi là họ có vấn đề, nên mình nhờ đến các chuyên gia tư vấn để biết cách ứng xử với người đó. Trong cả hai trường hợp này, chúng ta phải nói cho người bạn hoặc là chuyên gia nghe về những vấn đề, những việc không tốt của người khác, nhưng động cơ của mình là muốn giúp họ và muốn giải quyết sự khó khăn.
Trong một trường hợp khác, một người quen của mình có thể không biết là họ đang có hành vi gây tổn hại người khác hoặc là hành xử theo lối hạ nhục người khác. Để bảo vệ người ấy khỏi phải tai họa do sự thiếu sáng suốt của chính họ gây ra, chúng ta có thể nói cho họ biết rõ điều mà họ làm. Ở đây chúng ta nói không phải với giọng phê bình hay là thái độ xét nét mà nói với lòng thương yêu, nhằm chỉ ra lỗi lầm hoặc sai phạm của người đó để rồi anh ta có thể khắc phục.
Chúng ta thường có thói quen nói lỗi của người khác. Để từ bỏ thói quen này thì chúng ta phải bắt đầu từ việc điều chỉnh thói quen đánh giá người khác. Thay vì đánh giá, phê bình người khác, chúng ta hãy lưu tâm đến những phẩm chất tốt và sự tử tế của người khác. Chúng ta cần phải rèn luyên tâm của mình, chỉ nhìn những điểm tốt, những điều tích cực của người khác. Rèn luyện như thế thì sẽ tao nên sự khác biệt giữa niềm hạnh phúc, cởi mở và thương yêu của ta với sự buồn khổ, khó gần và khắt khe.
Chúng ta cần phải cố gắng để trau dồi thói quen chú ý vào những điều tốt đẹp, đáng yêu, đáng quý ở nơi người khác. Nếu chúng ta để ý những thứ đó thì chúng ta sẽ không lưu tâm đến những lỗi lầm của họ. Thái độ vui vẻ và lời nói bao dung xuất phát từ việc này sẽ cải thiện những người xung quanh và sẽ nuôi lớn hạnh phúc, sự mãn nguyện và tình thương yêu ở trong ta. Vì thế, chất lượng cuộc sống của ta tùy thuộc vào việc chúng ta tìm thấy lỗi lầm với kinh nghiệm của mình hay là thấy những gì tốt đẹp ở bên trong nó.
Khi chúng ta nhìn thấy lỗi lầm của người khác là chúng ta bỏ lỡ cơ hội để thương yêu. Nó cũng có nghĩa là chúng ta không có khả năng để nuôi dưỡng bản thân một cách hợp lý với những sự hiểu biết chân tình khi chúng ta đem vào tâm mình những độc tố. Khi chúng ta có thói quen xăm xoi lỗi của người khác thì chúng ta cũng có xu hướng chỉ nhìn thấy những khuyết điểm, những lỗi lầm của bản thân. Điều này có thể đưa chúng ta đến việc làm giảm giá trị toàn bộ cuộc sống của mình. Thật là bi thảm nếu chúng ta bỏ qua những điều quý giá và cơ hội trong cuộc sống của mình, không nhìn thấy khả năng thành Phật trong bản thân mình. Vì thế, chúng ta phải chấp nhận chính mình như những gì mình đang có trong hiện tại, đồng thời chúng ta cố gắng để trở nên những con người tốt hơn trong tương lai. Nói vậy không có nghĩa là chúng ta làm ngơ trước những lỗi lầm của mình, mà là chúng ta không quá miệt thị về chúng. Chúng ta mừng vì mình được làm người, tự tin về khả năng của mình và tự tin về những giá trị chân thực mà chúng ta đã gầy dựng từ trước đến nay.
Mọi người đều muốn được thương yêu – muốn được mọi người chú ý và thừa nhận những khía cạnh tích cực của bản thân, muốn được quan tâm và tôn trọng. Hầu hết chúng ta đều không muốn bị đánh giá, bị phê bình và từ chối. Việc trau dồi thói quen nhìn thấy những điều tốt đẹp của bản thân và của người khác mà có thể đem lại cho mình và người niềm hạnh phúc, nó cho phép chúng ta cảm nhận và mở rộng tình thương yêu. Từ bỏ thói quen nhìn thấy lỗi lầm sẽ giảm thiểu sự đau khổ cho mình và người. Vấn đề này nên được xem là trọng tâm trong lộ trình tâm linh của chúng ta. Chính vì lý do này mà đức Dalai Lama đã nói: “Tôn giáo của tôi là lòng tốt”. Chúng ta có thể vẫn thấy những điều chưa hoàn thiện của mình và của người khác, nhưng tâm chúng ta hiền dịu hơn, biết chấp nhận và rộng lượng hơn.
Đối lập với việc nói xấu người khác là nói với sự hiểu biết và thương yêu. Những ai đang đi trên lộ trình tâm linh và những ai muốn sống hòa hợp với người khác thì việc phát ngôn với sự hiểu biết và thương yêu là điều rất quan trọng. Khi chúng ta nhìn vào những phẩm chất tốt của người khác, chúng ta cảm thấy hạnh phúc. Việc thừa nhận những phẩm chất tốt của người khác khiến cho lòng mình cảm thấy hạnh phúc, nó còn tạo ra bầu không khí hài hòa và đem đến cho người khác thông tin phản hồi hữu ích.
Khen ngợi người khác là một việc mà chúng ta cần phải thực tập trong quá trình tu tập của mình. Nếu chúng ta thường nghĩ đến những tài năng, những phẩm chất tốt của người khác thì chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn và người khác cũng vậy. Chúng ta sẽ tạo được mối quan hệ tốt đẹp với người khác, và gia đình của chúng ta, môi trường làm việc và hoàn cảnh sống của chúng ta sẽ hòa hợp hơn. Chúng ta gieo những hạt giống từ những hành vi tích cực ấy ở trong tâm thức của mình, chúng ta sẽ tạo nhân duyên cho những mối quan hệ hòa ái và cho sự thành tựu những mục đích tâm linh cũng như những mục đích trong cuộc sống đời thường. 
Ni sư Thubten Chodron
Quảng Trí dịch 
(Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ số 187, ra tháng 10/2011)

Những bất cập trong bài viết “Phận những nô lệ tình dục trên chùa Ấn Độ”.

Vừa qua, trên trang báo điện tử Vietnamnet có đăng bài viết của tác giả Sầm Hoa với tựa đề “Phận những nô lệ tình dục trên chùa Ấn Độ” đã gây xôn xao dư luận trong cộng đồng Phật giáo và tổn hại đến hình ảnh, uy tín của Phật giáo. Nguồn gốc bài lược dịch này lấy từ đâu? Tính xác thực của nó như thế nào?

Tấm lòng người mẹ quê

Tình mẹ là một tình cảm vô cùng thiêng liêng, cao quý. Tất cả mọi người mẹ trên cõi đời này đều thương yêu con của mình, đấy là bản tính, là thiên tư của người phụ nữ. Chính nhờ tình thương của mẹ mà người con được lớn lên, được trưởng thành. Tình thương yêu của mẹ đã giúp cho người con lớn lên một cách bình thường và quân bình về các phương diện tâm sinh lý.

Mời đón đọc cuốn sách "chuyển hóa khổ đau"

Lời mở đầu: 
Từ khởi thủy cho đến hôm nay và mãi mãi về sau, nhân loại vẫn luôn tìm cầu hạnh phúc. Mọi người đều muốn được hạnh phúc, đều hướng đến một cuộc sống lý tưởng ở đó con người luôn đối xử với nhau bằng tất cả chân tình, tôn trọng thương yêu lẫn nhau, đem niềm an vui và hạnh phúc đến cho nhau.
Tuy nhiên, hiện thực cuộc sống cho chúng ta thấy rằng, con người vẫn còn khổ đau nhiều.Có những nỗi đau thuộc về thể xác, có những nỗi khổ thuộc về tinh thần. Và hẳn nhiên là có những đau đớn về thể xác dẫn đến khổ đau về tinh thần; có những nỗi khổ về tinh thần khiến cho thân thể suy nhược, tiều tụy và phát sinh bệnh tật. Bởi vì, thể xác và tinh thần là hai phần có sự kết nối chặt chẽ và liên hệ mật thiết với nhau trong con người. Thiếu một trong hai thành tố ấy thì sự sống con người không còn ý nghĩa nữa. Tuy nhiên, đáng quan tâm nhất vẫn những khổ đau về tinh thần.

Hai hạt giống

Hai hạt giống được đặt bên cạnh nhau trong mảnh đất màu mở.
Hạt giống thứ nhất nói “Tôi muốn lớn lên! Tôi muốn bám những cái rễ của mình vào sâu trong lòng đất ở phía dưới, và mọc những cái mầm của mình xuyên qua lớp đất ở bên trên,… Tôi muốn giương cao những nụ hoa mềm mại của tôi giống như những cái biểu ngữ để báo hiệu mùa xuân đến. Tôi muốn cảm nhận sự ấm áp của ánh mặt trời trên khuôn mặt của tôi và sự thấm đượm của sương mai trên những cánh hoa của tôi.”

Đem sự hòa hợp, an vui đến nơi làm việc *

Hầu hết mọi người đều dành phần lớn thời gian trong ngày ở nơi làm việc. Vì thế, hợp nhất sự thực hành giáo pháp với hoạt động lao động hằng ngày của chúng ta là vấn đề quan trọng. Chúng ta có thể làm điều này theo những cách thức sau: Phát khởi động cơ tốt, ý thức rõ về cách chúng ta giao tiếp với người khác, và loại bỏ những hành vi bất thường, những thói quen cũ.

Làm gì khi khi bạn sắp nổi giận?

Để trau dồi đạo đức, hoàn thiện nhân cách thì chúng ta cần phải tránh xa các hành vi gây tổn hại cho mình và người, và làm những điều hữu ích với tất cả khả năng của mình. Biết vậy, nhưng để có thể giữ được tâm bình tĩnh và lòng khoan dung khi chúng ta lâm vào hoàn cảnh bị ngược đãi, hoặc đối diện với những người khó chịu thì quả là không phải dễ. 

Tình Mẹ Và Quê Hương

Mẹ và quê hương là hai hình ảnh luôn luôn gắn bó mật thiết với nhau. Nghĩ về mẹ là tự nhiên chúng ta nhớ đến quê hương. Cũng vậy, mỗi khi chúng ta tưởng nhớ đến quê hương là hình ảnh mẹ hiền cặm cụi, chịu thương chịu khó lại hiện về trong tâm trí. Tất cả mọi người hiện hữu trong cuộc đời này đều từ trong lòng mẹ mà sinh ra và có một tuổi thơ gắn bó với một miền quê nhất định. Dù cho tuổi thơ của chúng ta có thế nào đi nữa, có bất hạnh đến đâu thì ít ra trong mỗi chúng ta đều có một vài kỷ niệm đẹp, những dấu ấn khó phai mờ về quê hương của mình.

Hiểu nhau để cùng nhau sống trong tình thương yêu

Trải qua nhiều năm đã khiến tôi đi đến một kết luận rằng: Con người, về cơ bản, là xung khắc với nhau. Chúng ta là những cá nhân khác nhau, chúng ta có thời thơ ấu khác nhau, và ở bất kỳ mọi thời điểm nhất định, tư tưởng và cảm xúc của chúng ta chắc chắn khác với tư tưởng và cảm xúc của bất cứ người nào khác, thậm chí ngay cả những người gần gũi nhất và thân thiết nhất của chúng ta. Được tạo ra bởi những khác biệt về cấu trúc gene, điều kiện và hoàn cảnh của cuộc sống, đấy là một sự mầu nhiệm mà chúng ta có được.

Vai trò của âm nhạc trong cuộc sống

Âm nhạc là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Âm nhạc có thể chia sẻ với chúng ta rất nhiều điều: Giải quyết những khó khăn trong cuộc sống, vơi đi những hờn giận vu vơ, đưa người về dĩ vãng, tìm lại tuổi thơ yêu dấu, nghe lòng bồi hồi, xao xuyến với tình yêu quê mẹ, với nắng ấm quê cha, sống dậy lòng tự hào dân tộc, khát vọng tìm về chân lý… Ngay từ thời thượng cổ, âm nhạc đã được ra đời cùng với đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất của các cộng đồng người nguyên thuỷ. Kể từ đấy, âm nhạc đã không ngừng được phát triển và hoàn thiện cùng năm tháng. Quả thật, âm nhạc có sức ảnh hưởng lớn đến con người, đến sự hình thành và phát triển nhân cách nơi mỗi người.
Như các loại hình nghệ thuật khác, nội dung âm nhạc cũng phản ánh hiện thực của cuộc sống. Bằng nét đặc thù riêng của mình, âm nhạc đã phản ánh hiện thực cuộc sống một cách ước lệ và trừu tượng. Âm nhạc mô tả các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Âm nhạc còn có thể thể hiện quan điểm sống, chuyển tải tư tưởng. Còn một phần rất quan trọng trong nội dung của âm nhạc là sự đánh giá thực tại trên quan điểm của Mỹ học, có nghĩa là đánh giá các sự vật, hiện tượng nhưng không phụ thuộc vào cách nhìn nhận thực tiễn, thực dụng về đối tượng ấy. Vĩ dụ khi ngắm nhìn cảnh mặt trời mọc, chúng ta thích ngắm nhìn nó vì nó đẹp chứ hoàn toàn không có ý nghĩ là mặt trời sẽ cung cấp năng lượng cho chúng ta, mặt trời sẽ sưởi ấm cho ta,… Có thể nói rằng, cách đánh giá trên quan điểm Mỹ học là một cách đánh giá “vô tư”.
Đấy là những nội dung mà âm nhạc có thể chuyển tải. Và nội dung của âm nhạc có tính bất định. Tùy theo khả năng và đặc điểm tâm lý, quan điểm, sở thích, kinh nghiệm sống, trình độ văn hóa… của mỗi người mà ở họ có sự cảm nhận khác nhau về nội dung của cùng một bản nhạc.
Với sự phối hợp nhuần nhuyễn, hài hoà giữa ca từ, nhịp điệu, tiết tấu bản nhạc, âm nhạc đã tác động lớn đến người nghe. Dù rằng sự cảm thụ âm nhạc ở mỗi người là khác nhau và có thể rất đa dạng. Nhưng chúng vẫn nằm trong một ranh giới nhất định và vẫn có những điểm chung nhất định. Điểm chung ấy dựa vào sức tác động của âm nhạc đối với con người.
Trước hết, âm nhạc tác động lên phương diện sinh lý của con người. Sự tác động này hầu như ai cũng nhận thấy được. Bằng công trình nghiên cứu của mình, hai nhà sinh học người Nga, I.M.Đô ghen và I.R.Tackhanốp đã chứng minh rằng, Âm nhạc có ảnh hưởng đến hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và đến những khía cạnh khác trong cơ thể người. Âm nhạc có thể khiến cho người nghe cảm thấy dễ chịu, cảm thấy nhẹ nhàng, thư thái. Và âm nhạc cũng có thể làm cho người nghe cảm thấy mệt mõi, rã rời hay căng thẳng, khó chịu. Chính vì thế mà âm nhạc có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động. Ngày trước, nhờ những câu hò ý vị, vui tươi trong khi gặt hái, trong khi giả gạo, trong khi cấy cày, tát nước,… người lao động đã quên đi sự mệt nhọc, vất vả và hăng say hơn trong công việc. Ngày nay, trong các nhà máy, xí nghiệp, nếu biết sử dụng âm nhạc một cách khoa học thì năng suất lao động sẽ được nâng cao.
Không chỉ có thế, âm nhạc còn tác động đến cảm xúc và tư tưởng của con người. Âm nhạc, nếu được cảm thụ một cách sâu sắc và thông minh thì sẽ tác động đến thế giới quan, đến toàn bộ ý thức của con người. Tác động trực tiếp, mạnh mẽ nhất của âm nhạc đối với con người là trong lĩnh vực tình cảm và tâm trạng của con người. Không một loại hình nghệ thuật nào khác ngoài âm nhạc lại có thể tác động với một uy lực như thế vào thế giới cảm xúc của con người.
Sở dĩ âm nhạc có được sức ảnh hưởng lớn bởi vì âm nhạc là một loại hình nghệ thuật có tính biểu hiện. Ngôn ngữ của nó giống với ngữ điệu của tiếng nói và giống với cử chỉ, nghĩa là giống với phương tiện biểu hiện của cảm xúc. Chính sự khái quát hoá và tăng lên gấp nhiều lần những khả năng biểu hiện của ngữ điệu và tiết tấu, âm nhạc đã có được một sức mạnh tác động vào cảm xúc thật lớn lao. Hơn nữa, trong tác phẩm âm nhạc còn miêu tả những điều mà chúng ta thích thú và quan tâm trong thực tiễn. Âm nhạc có sự tái hiện những âm thanh đầy sức hấp dẫn của thiên nhiên, thể hiện những cảm xúc dễ chịu và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của chúng ta.
Có một vai trò của âm nhạc mà không ai có thể phủ nhận được, đó là sự tham gia và hỗ trợ trong các dịp lễ hội và giải trí cộng đồng, trong sự chuyển động của tập thể (diễu hành), dùng làm phương tiện để nghỉ ngơi, giải trí.
Chính vì âm nhạc tác động lên mặt xúc cảm và tư tưởng nên âm nhạc đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc giáo dục con người, nhất là thế hệ trẻ. Có thể thông qua âm nhạc để giáo dục tư tưởng, đạo đức cho người nghe. Những nhân vật tích cực, những tấm gương đạo đức cao cả và cả hình tượng những con người bị dày vò bởi sự đấu tranh nội tâm khổ sở, những con người sống dằn vặt và không thoả mãn được đề cập đến trong bản nhạc đã ảnh hưởng đến tình cảm đạo đức của người nghe, nâng người nghe lên một tầm cao bao la về đạo đức. Những tác phẩm âm nhạc diễn tả những tư tưởng, tình cảm đạo đức cao đẹp như tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc, tình bạn, tình yêu, tình huynh đệ, tình phụ tử, tình mẫu tử,… luôn đóng một vai trò giáo dục đặc biệt có ý nghĩa. Âm nhạc đã đánh thức lương tâm, thức tỉnh một sự bồn chồn cao quí, một nỗi niềm lo lắng thiêng liêng: Mình đã làm được điều tốt đó chưa? Mình đã sống tốt chưa? Mình có xứng với cái đẹp ấy không? Liệu mình còn đủ sức để hoàn thiện bản thân hơn nữa không?… Những điều ấy tạo nên nội lực thúc đẩy người nghe vươn tới sự toàn thiện, toàn mỹ.
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, có những loại âm nhạc có thể tác động tiêu cực đến con người. Những ca khúc trữ tình chứa đựng những tình cảm không lành mạnh, sướt mướt hay suồng sã, nó có thể tác hại lớn đến đạo đức con người. Nó là kẻ đưa đường nhẹ nhàng nhất cho sự băng hoại đạo đức, suy sụp về tinh thần. Có những bản chạc mà khi nghe nó thì người nghe cảm thấy buồn rã rượi, chán nãn, yếu đuối, nhu nhược,… Và cũng có những bản nhạc làm cho người nghe phấn khích quá độ, trở nên cuồng nhiệt, không làm chủ được hành vi của mình, dẫn đến những hành động sai trái.
Vì âm nhạc có sức ảnh hưởng lớn như thế cho nên các bậc phụ huynh, những người làm công tác giáo dục cần phải lưu tâm nhiều hơn nữa về vấn đề này. Trong nhà trường, trong các sinh hoạt tập thể nên lựa chọn những loại âm nhạc có nội dung lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi của các em để dạy cho các em, để cho các em nghe. Trong gia đình, các bậc phụ huynh nên khuyên nhũ và định hướng cho con em mình lựa chon âm nhạc để nghe, hướng dẫn cho các em biết cách cảm thụ âm nhạc. Cần tìm hiểu sở thích âm nhạc của các em trong giáo dục. Qua sở thích về âm nhạc của các em, chúng ta có thể biết được phần nào tính khí và phẩm chất đạo đức của các em.
Như vậy, âm nhạc có nhiều vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Nhưng các vai trò ấy chúng gắn bó chặt chẻ với nhau, nhiều khi chúng hoà quyện vào nhau, khó có thể phân định rạch ròi.
Cuộc sống mà không có âm nhạc thì cuộc sống sẽ trở nên rất tẻ nhạt và trầm lắng. Bàn về vai trò của âm nhạc đối với cuộc sống xã hội thì phong phú và sâu sắc vô cùng. Trong bài viết nhỏ này chưa thể diễn tả hết được cái hay, cái quý của nó. Để kết thúc bài viết của mình, người viết xin dẫn ra đây lời nói của Sô-xta-cô-vits: “Âm nhạc nâng con người lên, làm con người cao quí hơn, củng cố phẩm chất, củng cố niềm tin vào sức mạnh bên trong của bản thân, vào sứ mệnh lớn lao của mình”.
Minh Nguyên


Đơn giản hóa cuộc sống của chúng ta

Nhiều người nói về việc đơn giản hóa cuộc sống của họ, nhưng cảm thấy khó thực hiện. Chúng ta không chỉ bị tác động bởi môi trường xã hội xung quanh chúng ta, mà ở một mức độ nào đó, chúng còn chấp nhận sự tác động đó. Điều này tạo nên nỗi lo sợ không có hạnh phúc, không thành công, không được yêu thương và không đảm bảo an toàn về vấn đề tài chính.

Nuôi lớn tình thương yêu mà không đánh mất chính mình

Trải qua nhiều năm đã khiến tôi đi đến một kết luận rằng: Con người, về cơ bản, là xung khắc với nhau. Hãy nghĩ về điều đó. Chúng ta sống bằng những cơ thể khác nhau, chúng ta có những thời thơ ấu khác nhau, và ở bất kỳ mọi thời điểm nhất định, tư tưởng và cảm xúc của chúng ta chắc chắn khác với tư tưởng và cảm xúc của bất cứ người nào khác, thậm chí ngay cả những người gần gũi nhất và thân thiết nhất của chúng ta. Được tạo ra bởi những khác biệt về cấu trúc gene, điều kiện và hoàn cảnh của cuộc sống, đấy là một sự mầu nhiệm mà chúng ta có được.

Câu chuyện con sao biển



Ngày xửa ngày xưa có một kẻ thông minh đã từng đến thăm đại dương để thực hiện công việc viết lách của anh ta. Anh ta có một thói quen đi bộ trên bờ biển trước khi anh ta bắt đầu công việc của mình.

Chai rượu brandy



Brett và Cameron là hai anh em. Brett lớn hơn và thích mạo hiểm hơn. Cậu ta là người có xu hướng muốn làm gì là làm chứ không hề đắn đo, suy nghĩ trước rằng “điều gì có thể xảy?” cho đến khi việc ấy đã qua. Cameron nhỏ hơn, thận trọng hơn, và luôn suy nghĩ trước về những khả năng có thể xảy ra. Một hôm Brett và Cameron nhận thấy chỉ có hai anh em ở nhà. Cha mẹ của họ đã đi đâu đó và họ nghĩ là giờ đây các cậu bé đã đủ lớn để có thể tin tưởng chúng. Một vài người bạn của Brett ở trường đã nói về vấn đề được phép uống rượu bia lần đầu tiên. Cha của Brett và Cameron thích uống một loong bia khi ông ta đi làm về vào buổi tối. Mẹ của họ thì không bao giờ uống. Bất cứ khi nào Brett xin nếm thử rượu của ba cậu ấy thì mẹ cậu ta nhanh chóng nói xen vào:

Cậu bé và cây táo



Cách đây đã lâu, có một cây táo lớn và có một cậu bé thích đến bên cây táo để vui đùa quanh nó mỗi ngày. Cậu bé trèo lên ngọn cây, ăn những quả táo và nghỉ dưới bóng râm. Cậu bé quí mến cây táo và cây táo cũng thích được chơi đùa với cậu bé.

Hải đảo của tình yêu




Ngày xưa có một hòn đảo, ở đó những cảm xúc đã sinh sống: Hạnh Phúc, Đau Buồn, Kiến Thức, và tất cả những thứ khác nữa, bao gồm cả Tình Yêu.
Một hôm, hòn đảo đã thông báo đến tất cả những cảm xúc rằng, hòn đả đang chìm dần xuống đáy đại dương. Cho nên tất cả các cảm xúc hãy chuẩn bị những chiếc thuyền để rời khỏi đảo. Chỉ có Tình Yêu là người duy nhất đã ở lại trên hòn đảo. Cô ấy muốn giữ hòn đảo tuyệt vời của họ cho đến giây phút cuối cùng.
Khi hòn đảo gần như đã bị chìm ngập, Tình Yêu quyết định đã đến lúc phải rời xa nó. Cô ấy bắt đầu nhin xung quanh xem có ai không để nhờ giúp đỡ.

Có lẽ tình yêu


Có lẽ tình yêu giống như một chốn yên nghĩ, là một chỗ để trú bảo. Nó hiện hữu để đem đến cho bạn sự dễ chịu, nó có mặt để giữ cho bạn được ấm áp. Và những lúc bạn gặp rắc rối, khi bạn cảm thấy cô đơn nhất, những kỷ niệm về tình yêu sẽ dẫn bạn về nhà.

Có lẽ tình yêu giống như cánh cửa sổ, một cánh cửa mở rộng. Nó mời gọi bạn đến gần hơn, nó muốn cho bạn thấy nhiều hơn. Và thậm chí nếu bạn đánh mất chính mình và không biết làm gì, những kỷ niệm của tình yêu sẽ giúp bạn tìm lại được chính mình.

Đối với một số người, tình yêu tựa như đám mây, và với một số người khác thì tình yêu vững chắc như sắt thép. Với một số người thì tình yêu là lẽ sống, với một vài người khác thì tình yêu là cách để cảm nhận.

Và một số thì nói rằng tình yêu là sự nắm giữ, và một số thì nói tình yêu là sự cho đi. Và một vài người thì cho rằng tình yêu là mọi thứ, một số khác thì nói họ không biết tình yêu là gì.

Có người thì nghĩ có lẽ tình yêu giống như một đại dương, đầy những thứ mâu thuẩn và đầy khổ đau.

Và lại có người cho rằng tình yêu giống như một ngọn lửa khi trời lạnh, như sấm chớp lúc trời mưa.

Nếu tôi có thể sống mãi và tất cả những ước mơ của tôi đều trở thành hiện thực, thì những kỷ niệm đẹp về tình yêu của tôi cũng sẽ là của bạn.

John Denver
Minh Nguyên dịch

 
Design by Wordpress Theme | Bloggerized by Free Blogger Templates
Khi sử dụng tài liệu từ blog này, vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn tài liệu. Cảm ơn!