Hiển thị các bài đăng có nhãn Luận giải Phật pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luận giải Phật pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Trọn bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm - HT. Tuyên Hóa giảng giải

Kinh lăng nghiêm là một bộ kinh quan trọng của Phật giáo Đại thừa, ở đó chuyển tải nhiều lời dạy quan trọng của Đức Phật đối với việc trừ ma, diệt ác, đặc biệt là những lời hướng dẫn cho việc hàng phục tâm ma dành cho các hành giả trong quá trình tu tập. Chính vì vậy mà Kinh Lăng Nghiêm được xem là bộ kinh phục ma hiển chánh. Ở đâu có Kinh Lăng Nghiêm thì ở đó ma quân khiếp sợ.

Bộ kinh này đã được Hòa Thượng Tuyên Hóa, một bậc cao tăng của thời hiện đại, giảng giải rất rõ ràng và dễ hiểu, và đã được chuyển sang tiếng Việt, nay lại được chuyển thể sang dạng sách nói, rất tiện lợi cho mọi người nghe kinh. Nay Thế giới Phật giáo xin giới thiệu đến bạn đọc bộ kinh này, mới mọi người cùng nghiên cứu và tu học:


Để sống có hạnh phúc

 
LTS: Vào ngày 15-3-2012, Tăng đoàn tu viện Namyal - tu viện của Đức Dalai Lama tại Dharamsala, Ấn Độ - do ngài Tu viện trưởng Thamthog Tulku Rinpoche làm trưởng đoàn, đã đến thăm Tòa soạn Báo Giác Ngộ. Trong buổi gặp gỡ ấy, ngài Thamthog đã chia sẻ những kinh nghiệm tu tập để có được sự hạnh phúc ngay trong cuộc sống hiện tại. Nay chúng tôi lược ghi lại để giới thiệu cùng bạn đọc.
Mặc dù chúng ta có những nền văn hóa khác nhau, có tông phái và pháp môn tu tập khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, hình thể khác nhau… nhưng trên tất cả, chúng ta đều là đệ tử của Phật, là những người tu học theo giáo lý của Đấng Giác Ngộ, đều hướng đến một mục đích chung là tìm kiếm hạnh phúc, giải thoát cho tự thân và cho tha nhân.
Trong rất nhiều giáo lý mà Đức Phật đã dạy thì giáo lý Duyên khởi là một trong những giáo lý trọng tâm của đạo Phật. Theo tinh thần giáo lý Duyên khởi, tất cả các pháp trên thế gian này đều do các nhân duyên hội tụ mà sinh ra, nương vào nhau mà tồn tại chứ không do một đấng Sáng tạo nào tạo ra cả. Chiến tranh hay hòa bình ở các quốc gia trên thế giới, sự giàu có hay nghèo đói, hạnh phúc hay đau khổ của con người đều do các duyên mà sinh khởi, không phải ngẫu nhiên mà có. Và trong đó, con người là nhân tố đóng vai trò chủ đạo. Có nhiều lúc chúng ta khổ đau mà không hiểu tại sao mình bị khổ đau, không rõ nguyên nhân do đâu, cho nên mình không biết cách giải quyết. Một khi chúng ta đã hiểu được cội nguồn chính yếu của mọi khổ đau của chúng ta là ở nơi chính mình, ở nơi ba nghiệp thân, khẩu, ý của mình, tự mình làm cho mình hạnh phúc và cũng chính mình làm cho mình khổ đau chứ không ai khác, thì chúng sẽ biết phương pháp để đoạn trừ khổ đau và làm tăng trưởng hạnh phúc. Nhờ vậy mà tâm ta được an bình hơn và cuộc sống tươi đẹp hơn.  
Thường thì chúng ta hay đổ thừa trách nhiệm lên người khác đối với những khổ đau của mình. Chúng ta nghĩ do người này làm mình khổ đau, người kia làm cho mình bất an, người nọ làm cho mình nổi cáu… chứ hiếm khi nghĩ là do mình nghĩ bậy, làm bậy, do sự thiếu sáng suốt, do tham sân, chấp ngã trong tâm mình tạo ra; do tâm nghĩ điều xấu, miệng nói lời ác, thân làm việc bất thiện cho nên bây giờ mình chịu quả báo khổ đau. Đến khi nào mình dám nhìn thẳng vào sự thật, dám chịu trách nhiệm về những khổ đau của mình, thấy được những khổ đau ấy là do những bất thiện nghiệp từ thân, khẩu, ý của mình tạo ra thì mình sẽ biết cách điều chỉnh những ý nghĩ, lời nói và hành vi của mình cho phù hợp với Chánh đạo, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức mà Thế Tôn đã dạy, thì lúc đó chúng ta sẽ có được hạnh phúc trong cuộc sống.
Có một lời dạy hết sức quan trọng mà Đức Phật đã dạy cho tất cả mọi người, đó là: Trong cuộc sống, chúng ta cố gắng làm lợi ích cho tất cả muôn loài, dù chúng ta làm gì hay trong bất cứ trường hợp nào cũng đều phải nghĩ đến sự an vui, hạnh phúc của người khác. Nếu như chúng ta không thể đem đến an vui, hạnh phúc cho người khác thì ít nhất là chúng ta không được gây tổn hại đến người khác.
Để hoàn thiện bản thân thì chúng ta phải biết tự kiểm soát chính mình. Từ sáng sớm thức dậy cho đến khi đi ngủ, chúng ta phải nhìn lại xem mình đã có những ý nghĩ gì, đã nói những gì và làm những gì? Xem xem là mình có nói những lời hay, có nghĩ những điều tích cực, có làm những việc tốt không, hay là mình đã nói những lời xấu ác, nghĩ những điều tiêu cực, thâm hiểm và làm những việc gây tổn hại người khác? Chúng ta phải tự quán xét, tự đánh giá mỗi ngày và liên tục như thế thì chúng ta sẽ biết được những gì đem đến hạnh phúc cho mình và người, và những gì gây khổ đau cho mình và người. Và chúng ta cố gắng trong mỗi ngày đều nghĩ những điều tốt, nói những điều hay và làm những việc thiện, loại bỏ dần những nghiệp nhân bất thiện. Đấy chính là phương pháp để chúng ta hành trì. Bởi vì, chỉ có chúng ta mới biết rõ bản thân mình hơn ai hết. Mình nghĩ gì, nói gì và làm gì thì mình đều có thể nhận diện được một cách rõ ràng. Tự kiểm nghiệm bản thân là vấn đề quan trọng nhất để hoàn thiện nhân cách, để tiến triển trong nếp sống tâm linh. Mỗi buổi sáng thức dậy, chúng ta nhìn lại xem mình đang nghĩ những gì, những ý nghĩ tốt sinh khởi nhiều hơn hay những ý nghĩ xấu nhiều hơn. Nếu những ý nghĩ xấu nhiều hơn thì chúng ta cần tìm cách giảm thiểu, nếu những ý nghĩ tốt nhiều thì chúng ta tìm cách phát huy. Rồi chúng ta quán sát, nhận diện những lời nói và hành vi của mình để thanh lọc và điều chỉnh theo chiều hướng tích cực, tốt lành. Nếu chúng ta làm được những việc đó mỗi ngày, kéo dài đến một tháng, hai tháng, hay một năm, hai năm thì chúng ta sẽ thấy có một sự thay đổi lớn trong dòng tâm thức của mình, trong lời nói và hành vi của mình. Và lúc đó chúng ta sẽ sống bình an và hạnh phúc hơn, đồng thời chúng ta đem đến lợi ích cho nhiều người hơn.
Ngày nay, toàn thế giới đang chạy theo vấn đề vật chất, ở Việt Nam cũng thế. Bởi nhiều người nghĩ rằng, khi chúng ta dồi dào về vật chất, có đầy đủ các tiện nghi, các phương tiện hiện đại thì chúng ta sẽ có hạnh phúc. Chính vì thế mà nhiều người cố gắng tạo ra thật nhiều của cải vật chất, cố gắng tích góp thật nhiều phương tiện hiện đại, như là nhà lầu, xe hơi, máy bay, các thiết bị điện tử siêu xịn… Thế nhưng, một khi họ có được những thứ đó rồi thì họ vẫn đau khổ như thường, họ vẫn cảm thấy bất an, cảm thấy căng thẳng, cô đơn, âu sầu, phiền muộn… Tại vì, vật chất chỉ có giá trị tương đối mà thôi, nó không phải là yếu tố quyết định đến hạnh phúc của mỗi người. Hạnh phúc hay khổ đau đều do đời sống nội tâm của con người cả. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta phủ nhận hoàn toàn giá trị của vật chất, chúng ta không cố gắng tạo ra của cải, vật chất để đưa xã hội phát triển. Chúng ta vẫn phát triển công nghệ, vẫn sản xuất vật chất, vì vật chất là điều kiện cơ bản để chúng ta có cuộc sống ổn định, là điều kiện cần để có hạnh phúc. Bên cạnh đó, chúng ta phải dành thời gian để chăm lo đời sống tâm linh của mình, phải nuôi dưỡng tâm thức của mình bằng những dưỡng chất thanh cao, tốt đẹp. Chúng ta phải chăm chút cho đời sống nội tâm của mình, để chúng ta có được sự an bình, hạnh phúc. Nhờ vậy mà chúng ta có thể đem lại an bình, hạnh phúc cho những người thân yêu, bạn bè, đồng nghiệp của mình và những người xung quanh. Nếu chúng ta không có hạnh phúc, nếu tâm chúng ta đầy những khổ đau, muộn phiền thì chúng ta khó lòng đem đến an vui, hạnh phúc cho người khác. Khi chúng ta dồi dào về vật chất, đầy đủ các tiện nghi hiện đại, nhưng tâm chúng ta đầy sân hận, đầy những tham lam, tật đố, đầy kiêu căng, ngạo mạn thì những thứ của cải, vật chất đó vẫn không giúp ích gì cho ta trong việc chuyển hóa tâm mình, không giúp cho ta có được sự bình an ở trong lòng. Chúng ta chỉ có được hạnh phúc khi những tham lam, sân hận, kiêu căng ở trong lòng được giảm thiểu, được chuyển hóa. Nhờ vào giáo pháp của Phật, chúng ta có thể làm được việc này. Vì những phiền não, những tham, sân, si ấy vốn không phải là bản chất của tâm, chúng do duyên sanh, do các yếu tố bên ngoài góp phần tạo nên. Do vậy, chúng ta có thể chuyển hóa chúng nhờ vào con đường Giới - Định - Tuệ mà Đức Phật đã chỉ dạy. Chúng ta phải nhận diện và chuyển hóa những bất thiện nghiệp khi chúng vừa dấy lên trong tâm mình, đừng để cho chúng bộc phát ra bên ngoài, để rồi làm khổ mình, làm hại người.
Xét về phương diện xã hội, tất cả mọi người trong cuộc đời này đều phụ thuộc vào nhau, nương nhau để tồn tại, chứ không ai có thể tồn tại một cách hoàn toàn độc lập được, bởi vì luật duyên khởi mang tính phổ quát, chi phối đến tất cả mọi người, mọi loài. Cũng chính vì mọi người nương vào nhau để tồn tại cho nên hạnh phúc hay đau khổ của người này có sự ảnh hưởng và tùy thuộc vào hạnh phúc hay khổ đau của người khác. Chúng ta không thể nào có được hạnh phúc khi mà những người thân của mình, những người xung quanh mình đang đau khổ. Cho nên, những bậc hiền trí luôn tìm cách làm lợi ích cho người khác, luôn làm cho người khác được hạnh phúc, và khi người khác có hạnh phúc thì chính bản thân những bậc hiền trí ấy cũng được hạnh phúc theo và khi ấy niềm hạnh phúc của họ được nhân lên rất nhiều. Hơn nữa, bản thân mình chỉ là số ít, và mọi người trong xã hội mới là số đông. Chúng ta hãy sống vì hạnh phúc và lợi ích cho số đông, đấy mới là vấn đề quan trọng. Nếu chúng ta vì lợi ích cá nhân mà tổn hại đến lợi ích của tâp thể thì chúng ta khó lòng có được hạnh phúc. Ngược lại, nếu chúng ta lo cho hạnh phúc của số đông thì hạnh phúc của chúng ta sẽ được bền vững hơn, sẽ đến một cách rất tự nhiên và được tăng lên rất nhiều.
Có một thực tế là người nào sống vì cộng đồng, luôn giúp đỡ mọi người, chăm lo cho hạnh phúc của người khác thì người đó thường dễ gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống. Tại vì họ thường giúp đỡ người khác, xây dựng được nhiều mối quan hệ xã hội tốt đẹp, cho nên khi họ làm bất cứ việc gì, hoặc cần đến sự giúp đỡ thì đều nhận được sự giúp đỡ của nhiều người. Và những người như thế thì không những hiện tại họ sống hạnh phúc, an vui, thành công trong cuộc sống mà những kiếp sống tương lai của họ cũng sẽ được hạnh phúc. Còn với những người ích kỷ, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân thì thường khó thành công, khó có được hạnh phúc, và luôn sống trong lẻ loi, đơn độc.
Ngày nay, Phật giáo đã được truyền bá rộng rãi trên khắp năm châu, rất nhiều người phương Tây quay về nghiên cứu và tu học theo giáo lý của Đức Phật. Và theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, giáo lý của đạo Phật ngày càng thể hiện rõ giá trị và vai trò của mình đối với nhân loại, đối với niềm an lạc và hạnh phúc của mỗi người. Kho tàng giáo lý của Phật giáo trở thành bảo vật vô cùng quý giá của toàn nhân loại. Vì thế, những người con Phật như chúng ta cần phải chuyên tâm tu học, phải hành trì miên mật, phải bảo tồn, phát huy và truyền bá Chánh pháp đến với mọi người, nhất là với thế hệ trẻ, để góp phần đem lại hạnh phúc cho muôn loài và tạo dựng nền hòa bình cho thế giới.
Thamthog Tulku Rinpoche - Quảng Trí lược ghi
(Nguồn: Báo Giác Ngô, số 639, số đặc biệt mừng Phật đản, ra ngày 28-4-2012)              

Làm Sao Để Kiếm Tìm Vị Thầy Tâm Linh ?


“Dựa trên những lời giáo huấn để đánh giá một vị thầy: Đừng có tin một cách mù quáng, nhưng cũng đừng có phê bình mù quáng”. (Dalai Lama)
Chúng ta cần sự hỗ trợ trên con đường tâm linh để giúp chúng ta tìm ra con đường đúng đắn. Rõ ràng, một người tốt nhất để chúng ta đi theo có thể xem như là một hướng dẫn viên du lịch giỏi, người đã đi qua con đường đó một cách thành công. Người ấy có thể giúp ta rút ngắn lộ trình của mình và tránh những chướng ngại trên đường.
Ở phương Tây, vai trò của vị thầy tâm linh thường bị hiểu nhầm, bởi vì người phương Tây đã không còn giữ hệ thống giáo dục cổ điển, học sinh học với một vị thầy giáo trong nhiều năm, chẳng hạn như là việc học các ngành nghề thủ công.
Có nhiều sự hiểu nhầm về các bậc thầy tâm linh. Một số người có thể nghĩ rằng, một vị thầy tâm linh sẽ nhận lãnh toàn bộ trách nhiệm đối với đời sống của một người đệ tử, và xem người đệ tử như là một kẻ biết vâng lời, như một đứa trẻ vô tâm. Như Scott Mandelker nhận định: “Dường như rằng, hầu hết những người đệ tử đều thật sự muốn giữ lại một chút tính trẻ con, và thần tượng hóa người cha, người mẹ tâm linh thiêng linh của mình”.
Tuy nhiên, không ai có thể nhận lãnh trách nhiệm thay cho chính ta, thay cho lối sống của ta, thay cho những hạnh nghiệp mà ta đã làm. Thậm chí, ngay cả khi chúng ta nhường việc đưa ra một số quyết định lại cho người khác thì chúng ta vẫn chịu trách nhiệm về những hành động của ta, kể cả khi chúng ta chuyển các quyết định ấy cho người khác.
Chúng ta cần có cái nhìn thiết thực về những vị thầy tâm linh. Nếu chúng ta muốn học điều gì đó thì chúng ta cần một vị thầy, hoặc ít ra thì sẽ rất hữu ích khi chúng ta có một vị thầy chỉ dẫn. Làm sao chúng ta có thể tiến bộ trong việc tập đọc, tập viết khi không có thầy dạy, không có người hướng dẫn? Ngài Zasep Tulku Rinpoche đã dạy: “Nếu bạn học Phật chỉ vì mục đích nghiên cứu, vì muốn phát triển sự hiểu biết của mình về Phật pháp, nếu bạn bạn chỉ học Phật pháp mang tính học thuật, chỉ ở mức độ tri thức thì tôi nghĩ bạn không cần đến mối quan hệ thầy-trò. Và bạn cũng có thể học với tất cả mọi vị thầy. Việc này cũng giống như bạn đến học tại một trường đại học vậy, bạn học với những vị thầy khác nhau, những giáo sư khác nhau và cứ thế bạn tiến về phía trước. Nhưng nếu bạn muốn dấn thân tu theo Phật pháp thì cần phải có vị thầy dẫn dắt, bởi vì chúng ta cần phải biết làm sao để đạt đến sự giải thoát, làm sao để thực tập Chánh pháp”.
Trong đạo Phật, chúng ta cần phải nhận thấy được rằng, vai trò của người thầy tâm linh là vô cùng quan trọng, bởi vì người thầy có thể dẫn dắt chúng ta tìm thấy được trí tuệ bên trong mình, nhận thấy “vị thầy bên trong” của mình. Chúng ta cần phải phát triển trí tuệ và sự thấu hiểu của mình để trở thành một bậc thầy, và cuối cùng là chính ta trở thành một vị Phật. Trong ý nghĩa đó, một vị thầy như là “một người mẹ tâm linh”; ở giai đoạn khởi đầu, chúng ta dường như không có khả năng tự lập, vì thế chúng ta cần nhiều sự giúp đỡ, sự chỉ dẫn; nhưng cuối cùng thì chúng ta cần phải đứng bằng chính đôi chân của mình và có khả năng tự lập. Ngài Lama Thubten Yeshe từng dạy: “Một vị thầy tâm linh là một người thật sự có thể chỉ cho bạn thấy Phật tánh trong tâm của bạn và là người biết những phương thuốc tuyệt hảo để chữa trị những tâm bệnh của bạn. Một người mà không biết tâm của chính họ thì sẽ không bao giờ biết được tâm của người khác, do vậy họ không thể nào làm một vị thầy tâm linh”.  
Trước khi chúng ta quyết đinh đi theo một vị thầy tâm linh, chúng ta cần phải tìm hiểu về vị đó, đây là điều hết sức quan trọng. Có không ít những điều dối trá ở xung quanh ta. Trong truyền thống Ấn Độ cổ, các vị thầy thường được kiểm tra trong vòng 12 năm hoặc hơn trước khi họ được hoàn toàn tin tưởng và giao phó nhiệm vụ làm vị thầy hướng dẫn tâm linh cho học trò. Người ta rất dễ đi theo người khác một cách mù quáng, đặc biệt là với “những người nói rất êm tai” và “những người bán hàng giỏi”. Lý do khiến các vị thầy tâm linh được gọi với những cái danh từ xấu đó là vì nhiều người đã bị lừa bởi những thứ hào nhoáng bên ngoài. Những người đó không nên tin tưởng một cách mù quáng vào các vị thầy như thế để rồi đi theo họ.
Bạn cần phải có trách nhiệm kiểm tra những cảm nhận của mình một cách nghiêm túc, ngay cả trong những mối quan hệ cá nhân: Kiểm chứng xem những hành vi của họ có hợp với những gì họ nói không? Phải chăng họ thường nhấn mạnh đến những vấn đề đời thường hơn so với con đường tâm linh của họ? Hãy xem những gì mà các vị đệ tử khác nói về thầy của họ; và đương nhiên là cả những điều mà các vị thầy khác nghĩ.
Làm sao để một người có thể chọn cho mình một vị thầy để giảng dạy cho họ các vấn đề tâm linh hoặc là nhận biết một vị thầy đáng tin cậy? Đối với câu hỏi này, Đức Dalai Lama đã dạy: “Điều này nên được tiến hành một cách tương ứng với tính tình và mối quan tâm của bạn, nhưng bạn phải phân tích kỹ lưỡng. Bạn phải kiểm tra trước khi nhận một vị thầy tâm linh để xem vị đó có thật sự có khả năng hay không. Trong kinh điển có dạy rằng, một con cá ẩn nấp dưới nước có thể được nhìn thấy thông qua sự chuyển động của những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước, cũng vậy, những phẩm chất bên trong của một vị thầy, qua thời gian, có thể nhìn thấy một ít thông qua những hành vi của vị đó. Chúng ta cần nhìn vào sự uyên thâm của vị thầy - khả năng giải thích các chủ đề - và xem vị đó có thực hiện những lời họ dạy trong tư cách đạo đức và lối sống của bản thân hay không.
Theo ngài Jamgon Kongtrul Lodro Thaye, thật khó để nhận ra một vị thầy chân thực, bởi vì những phẩm chất của một vị thầy đích thực thường nằm ở bên trong. Chúng ta không thể dựa vào những yếu tố bên ngoài được, nhưng những yếu tố bên ngoài là những gì chúng ta có thể thấy. Rất khó nhìn thấy được những phẩm chất bên trong của người khác. Một người kinh doanh có thể thân thiện với chúng ta hơn cả người bạn thân nhất của mình, trong khi động cơ bên trong của anh ta là chỉ để bán được sản phẩm. Tương tự như thế, một vị thầy hành xử với chúng ta bằng một thái độ rất tử tế và đầy yêu thương, nhưng điều đó không hẳn là vị ấy có tâm thương yêu và vị tha, tại vì chúng ta không thể nhìn thấy được động cơ bên trong của người đó. Chúng ta cũng không thể xác định những phẩm chất của một vị thầy dựa trên danh tiếng của họ, hay là dựa trên số lượng đệ tử, học trò của họ.
Không có một giải pháp đơn giản cho vấn đề này, nhưng có một vài điều mà chúng ta có thể áp dụng trong việc tìm kiếm cho mình một vị thầy tâm linh. Trước hết, chúng ta cần làm quan với những phẩm chất của một vị thầy tâm linh, đó là: 1. Một vị thầy tâm linh phải có hành vi đạo đức phù hợp, không làm tổn hại người khác mà lại còn giúp đỡ; 2. Có khả năng định tĩnh; 3. Không chấp ngã và không có những ý niệm về tự ngã; 4. Giảng dạy mọi người với tâm thương yêu, không vụ lợi; 5. Có sự hiểu biết, có tri thức phù hợp; 6. Chuyên tâm giảng dạy không biết mệt mõi; 7. Thông thạo nhiều kinh điển; 8. Nghiên cứu sâu và thực chứng nhiều hơn học trò; 9. Khéo thuyết giảng; và 10. Không thất vọng và bỏ rơi học trò khi họ có những biểu hiện chưa tốt. Nếu được thì nên tìm những vị thầy tâm linh hội đủ 10 phẩm chất nói trên, hoặc ít nhất là 5 phẩm chất đầu. Tiếp đến, chúng ta phải duy trì sự tỉnh giác đối với động cơ của chính mình trong quá trình tìm kiếm vị thầy tâm linh. Chúng ta phải luôn tự vấn chính mình: Phải chăng tôi đang tìm kiếm một vị thầy để giúp tôi đạt được sự giác ngộ để rồi làm lợi ích cho chúng sanh, hay là tôi tìm kiếm một vị thầy để thỏa mãn nhu cầu của tôi là có được uy tín khi được ở bên cạnh một vị thầy nổi tiếng, hay chỉ đơn giản là tôi bị thu hút bởi không gian tu tập đẹp đẽ của vị thầy, hay là bị cuốn hút bởi hình ảnh của cộng đồng tu sĩ tân thời…?
Những động cơ của chúng ta rất là quan trọng, chúng góp phần giúp ta tìm được một bậc thầy minh triết thực sự. Bởi vì, vị thầy mà ta tìm thấy có liên hệ với nghiệp của ta, và nghiệp của ta thì lại gắn kết mật thiết với động cơ của mình. May mắn cho chúng ta là còn có những phương pháp giúp ta thanh lọc động cơ của bản thân và tạo ra những điều kiện tương hợp cho việc tìm kiến một vị thầy minh triết. Những phương pháp ấy là: dùng sự tỉnh giác của mình để soi rọi vào những động cơ của bản thân càng nhiều càng tốt, thực tập thiền mỗi ngày, và cầu nguyện Tam bảo gia hộ… Những phương pháp này sẽ giúp ta gặp và nhận ra một vị thầy minh triết thực thụ.
Trong truyền thống tu tập của Phật giáo, Đức Phật đã ví những giáo pháp mà Ngài đã giảng dạy như những vị thuốc, và người thầy tâm linh thực thụ như là những vị bác sĩ giỏi, có khả năng chẩn đoán đúng tâm bệnh của đệ tử để rồi đưa ra những phương thuốc phù hợp giúp chữa lành căn bệnh cho họ. Vì thế, trên con đường tu học, nếu ta gặp được một vị thầy tâm linh thực thụ, một vị thầy với đầy đủ sự minh triết và lòng thương yêu để dẫn dắt chúng ta tu học thì đấy là một diễm phúc lớn, một phước báo lớn của ta.
Rudy Harderwijk - Quảng Trí lược dịch 
(Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ, số 192, ra tháng 3/2012)

Mười phương thức chánh niệm khi tham gia các mạng xã hội

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển như vũ bảo của công nghệ thông tin, sự phổ biến của phương tiện truyền thông internet, các trang mang xã hội, nơi giao lưu, chia sẻ của mọi người, nhất là giới trẻ, ngày càng nở rộ. Trong đó, phổ biến và nổi tiếng nhất là trang Facebook và trang Twitter, gần đây xuất hiện thêm trang Google Plus (Google +). Đấy là chưa kể đến các diễn đàn, các trang mạng xã hội chỉ đơn thuần chia sẻ về hình ảnh, hoặc video clip, và các trang blog cá nhân... Nói chung, các trang mạng xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người chia sẻ những tâm tư, tình cảm, cập nhật những thông tin sinh hoạt của cá nhân, chia sẻ hình ảnh, video, kiến thức, quan điểm… đến với bạn bè, người thân và nhiều người khác thông qua mạng lưới liên kết tuyệt vời do các nhà mạng cung cấp. Nhờ các trang mạng xã hội mà nhiều người tìm được niềm vui trong cuộc sống, tìm được bạn bè, thậm chí là tìm được người bạn đời, hoặc người tri âm tri kỷ cho mình… Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có không ít người gánh chịu phiền lụy khi tham gia các trang mạng xã hội, hoặc là giết hầu hết thời gian trong ngày của cá nhân vào các trang mạng xã hội để rồi bỏ bê công việc, không hoàn thành trách nhiệm, hoặc có người buồn khổ, sầu bi vì những vấn đề ở trên mạng xã hội… Thậm chí có người sử dụng các trang mạng xã hội để phát tán những tài liệu, những thông tin, hình ảnh không lành mạnh. Có thể nói, các trang mạng xã hội như là một con dao hai lưỡi, nếu sử dụng đúng cách thì nó sẽ đem lại lợi ích rất là nhiều, nếu không biết sử dụng thì nó cũng gây hại không ít. Để nâng cao hiệu quả và phát huy tính tích cực, thế mạnh khi sử dụng, tham gia các trang mạng xã hội. Lori Deschene, người sáng lập trang web Tinybuddha.com và cũng là chủ sở hữu của tài khoản @TinyBuddha trên trang Twitter đã đưa ra mười phương thức để sử dụng các trang mạng xã hội một cách có chánh niệm. Sau đây là nội dung của mười phương thức ấy:
1. Tự biết những chủ ý của mình
Có bảy yếu tố tâm lý mà chúng ta cần phải luôn ghi nhớ trong lòng khi chúng ta đăng nhập vào các trang mạng xã hội, đó là sự hàm ơn, chú ý, tán thành, đánh giá đúng, ca ngợi, tự tin và quán xét toàn diện. Trước khi chúng ta đăng tải thông tin gì đó lên mạng, chúng ta phải tự hỏi chính mình: Có phải mình đang muốn được mọi người biết đến, đang muốn mọi người thừa nhận? Có phải là có nhiều thứ hơn nữa mà mình có thể làm để đạt được nhu cầu đó?
 2. Hãy thể hiện một cách trung thực về bản thân
Trong thời đại của sự quảng bá thương hiệu cá nhân này, hầu hết chúng ta đều có một vị thế mà chúng ta muốn phát triển hoặc duy trì. Những thông tin đăng tải có chịu sự thúc đẩy của tự ngã thường nhắm vào một vấn đề gì đó; tính trung thực thì xuất phát từ trái tim. Hãy bàn về những điều thực sự quan trọng với bạn. Nếu bạn cần lời khuyên hoặc hỗ trợ thì mạnh dạn nêu lên. Chúng ta sẽ dễ dàng thể hiện bản thân hơn khi chúng ta trung thực với chính mình.
3. Tự hỏi chính mình trước khi đăng thông tin
Nếu bạn dự định đăng tải gì đó, bạn phải luôn tự hỏi: Nó có đúng không? Nó có cần thiết không? Nó có phù hợp không?
Đôi khi chúng ta đăng tải những tư tưởng mà chúng ta không hề nghĩ đến vấn đề là liệu những tư tưởng ấy có thể tác động đến toàn bộ khán, thính, độc giả của mình như thế nào. Chúng ta dễ dàng quên đi số lượng bạn bè đang đọc những thông tin đăng tải của mình. Hai trăm người có thể trở thành một đám đông khi họ hiện diện bằng xương bằng thịt, nhưng trên mạng internet thì con số ấy dường như không đáng kể. Cho nên trước khi bạn chia sẻ, hãy tự hỏi: Thứ mình chia sẻ đây có thể gây hại cho ai không?
4. Thỉnh thoảng đăng tải những thông tin về lòng tốt.
Tôi thương tự hỏi khi tôi đăng nhập vào mạng Twitter: "Hôm nay tôi có thể làm gì để giúp đỡ hay hỗ trợ các bạn?”. Sử dụng các trang mạng xã hội là một cách đơn giản để bạn tặng mà không mong đợi đáp trả lại điều gì cả. Thông qua cách tiếp cận để giúp đỡ một người lạ, bạn tạo ra khả năng kết nối mang tính cá nhân với những người đang theo dõi mà bạn có, nếu không thì bạn chỉ biết một cách sơ sài.
5. Trải nghiêm bây giờ, về sau mới chia sẻ
Có một tình trạng phổ biến là mọi người chụp ảnh với điện thoại cá nhân và tải nó lên Facebook hoặc gửi email cho một người bạn liền sau đó. Điều này khiến cho sự trải nghiệm tại một thời điểm của cá nhân và sự chia sẻ chồng chéo lên nhau. Việc làm này còn giảm thiểu sự thân mật, bởi vì toàn bộ những người theo dõi bạn tham gia vào những cuộc hẹn hoặc những cuộc hội ngộ của bạn trong thời gian thực. Như việc chúng ta muốn giảm thiểu các đoạn độc thoại trong tâm để chúng ta tiếp xúc trọn vẹn với thực tại hiện tiền, chúng ta cũng có thể làm tương tự với sự tường thuật bằng các thiết bị kỹ thuật số của mình.
6. Năng động nhưng không phản ứng lại
Bạn có thể nhận email cập nhật thông tin bất cứ khi nào có hoạt động diễn ra trên một trong những tài khoản của bạn ở trên các trang mạng xã hội, hoặc bạn có thể thiết lập cho điện thoại di động của bạn cung cấp cho bạn những lời thông báo. Điều này buộc bạn phải dành nhiều thời gian để phản hồi trở lại trong suốt cả ngày, dù cho bạn có muốn hay không. Có một cách tiếp cận khác là chúng ta chọn thời điểm để gia cuộc đàm luận, và sử dụng thời gian lúc mình không đăng nhập vào các trang mạng xã hội để lựa chọn những giá trị mà ta có thể đem đến cho mọi người.
7. Hãy phản hồi với tất cả sự chú tâm
Mọi người thường chia sẻ những đường liên kết mà không thực sự đọc những thông tin đó, hoặc đưa ra những lời bàn về các thông tin đăng tải khi họ chỉ nhìn lướt qua chúng. Nếu món quà lớn nhất mà chúng ta có thể trao tặng cho một ai đó là sự chú ý của mình, thì các trang mạng xã hội cho phép chúng ta trở thành một người vô cùng tốt bụng. Chúng ta có thể không đủ sức để phản hồi lại tất cả mọi người, nhưng hãy phản hồi một cách cẩn trọng để có thể tạo ra sự khác biệt.
8. Hạn chế sử dụng mạng xã hội thông qua các thiết bị điện tử di động
Trong năm 2009, Trung tâm nghiên cứu Pew phát hiện ra rằng, có 43% người dùng điện thoại di động truy cập vào mạng lưới internet trên thiết bị của họ nhiều lần trong ngày. Đó là điều mà cựu nhân viên Microsoft, Linda, đã nói đến như là “sự chú tâm khoái chí liên tục” - khi bạn thường xuyên đăng nhập vào các mạng xã hội để chắc chắn rằng bạn không bỏ lỡ bất cứ điều gì. Nếu bạn quyết định hạn chế truy cập internet thông qua điện thoại di động, bạn có thể bỏ lỡ cơ hội trực tuyến (online), nhưng bạn sẽ không bỏ lỡ những thứ phía trước bạn.
9. Tập bỏ qua
Có thể không tử tế lắm khi không để tâm đến một số thông tin hay sự chia sẻ nào đó, nhưng chúng ta cần thời gian nghỉ ngơi để tử tế với chính mình. Nên tự cho phép mình để cho những gì thuộc về ngày hôm qua thì cho chúng trôi qua đi. Theo cách này thì bạn sẽ không cần phải “bắt kịp” tất cả những thông tin cập nhật trên mạng xã hội khi mà chúng đã trôi qua, thay vào đó là sự toàn tâm toàn ý vào những cuộc đàm luận hôm nay.
10. Hãy vui thích với các trang mạng xã hội
Đấy chỉ là những gợi ý để cảm nhận sự có mặt trong giây phút hiện tại và có chủ tâm khi sử dụng các trang mạng xã hội, nhưng chúng không phải là quy tắc cứng nhắc và cố định. Hãy làm theo những bản tính tự nhiên của riêng bạn và vui chơi với mạng xã hội. Nếu bạn sống có chánh niệm khi bạn ngắt kết nối với thế giới công nghệ, bạn sẽ có tất cả những công cụ bạn cần để có được sự chánh niệm khi bạn trực tuyến.
Lori Deschene
Minh Nguyên phỏng dịch
(Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ, số 191, ra tháng 2/2012)

Tâm và Tiền

Tiền là một vấn đề luôn đè năng tâm trí ta. Bất luận là ta đang ở trong tình cảnh nào, mối liên hệ của ta với tiền bạc vẫn thường đè nặng lên ta. Và đối với những người chuyên tâm để sống có chánh niệm như chúng ta thì mối bận tâm về tiền bạc vẫn không giảm đi.
Chánh niệm giúp ta trau dồi những phẩm chất của sự chú ý để ta có thể đón nhận trọn vẹn và sẵn sàng tiếp cận với những gì diễn ra trong cuộc sống của ta. Tuy nhiên, khi chúng ta giáp mặt với những khoảnh khắc quan trọng liên quan đến tài chính, như là: cuốn sổ thanh toán bằng séc đã dùng hết, đưa ra quyết định đầu tư, yêu cầu mượn tiền, mong muốn một cái gì đó vượt ngoài khả năng của ta, hoặc lướt trên thị trường chứng khoán biến động mạnh,… thì những khả năng chánh niệm mà chúng ta có được một cách liên tục trong những lúc khác có thể biến mất. Những lúc như thế, chúng ta có thể dễ dàng chạy theo những cảm xúc vô thức và những hành vi dẫn đến đau khổ.
May mắn thay, cùng một mức độ mà tiền bạc đã đem đến cho cuộc sống của ta đầy những thách thức, khó khăn thì có một con đường có thể đưa chúng ta đến với cái nhìn sâu sắc hơn, giúp chúng ta có được cuộc sống dễ dàng hơn. Trong 25 năm, tôi đã hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân hướng đến mối quan hệ dễ chịu và hiệu quả hơn với tiền bạc, tôi nhận ra rằng, mặc dù giữa chúng ta có sự khác biệt lớn, nhưng chúng ta có nhiều điểm chung về lý do tại sao chúng ta phải vật lộn với tiền bạc và làm sao để chúng ta có thể trải nghiệm sự yên bình sâu sắc hơn về nó. Dưới đây là 3 phần trong sự thực tập mà ta có thể dùng để nâng cao giá trị sống trong mối liên hệ của ta với tiền bạc.
Nhìn vào bên trong
Mỗi người chúng ta có một câu chuyện đặc trưng liên quan đến tiền bạc mà chúng ta mang theo và trình bày với thế giới bằng vô số cách. Những câu chuyện ấy có thể trở thành những mô hình mặc định không được đánh giá và chúng kiểm soát vấn đề tài chính của chúng ta. Để có chánh niệm về tiền bạc có nghĩa là trước hết ta phân tích những nguồn gốc của các câu chuyện mà chúng ta nói với chính mình. Chúng ta không thể nào vượt qua những thứ mà chúng ta không thể nhìn thấy. Hãy xem xét vai trò của những sự ảnh hưởng sau đây:
- Sự thừa kế của ta
Ta là sản phẩm của tổ tiên nhiều đời và gia đình trong hiện tại của mình, và còn là sản phẩm của nền tảng văn hóa và giai cấp, địa vị của ta nữa. Những thông điệp, những câu châm ngôn, và những câu chuyện hoang đường về tiền bạc được truyền đến ta một cách công khai và tinh tế. Có những câu chuyện và những thông điệp mà ta được nghe liên tục khi trưởng thành hay không? Điều mà ta nói “đúng sự thật” về tiền bạc là gì? Bao nhiêu là "đủ" cho gia đình của ta? Ta đã kế thừa được thái độ gì đối tiền bạc từ tầng lớp của ta? Ta đã được dạy những gì về người thuộc các tầng lớp khác? Làm sao ta vẫn có thể bày tỏ sự trung thành với lịch sử này?
- Bản ngã ham muốn của ta
Tất cả chúng ta đều sớm có những niềm tin về tiền bạc mà chúng ta đã chấp nhận chúng một cách dễ dãi. Những niềm tin này có thể điều khiển hành vi của chúng ta, lọc lừa những thứ chúng ta có thể nhìn thấy. Chúng tạo ra một trạng thái tâm lý khiến chúng ta không quan sát trọn vẹn những thứ diễn ra trong cuộc sống của mình. Lòng tham muốn không biết chán, không biết đủ khiến cho chúng ta dễ bị tổn thương đối với những ước mơ và lời hứa hão huyền về sự sung túc. Sự túng thiếu có thể đưa đến những hình dạng thô tháo của tật háu ăn. Sự ham muốn và sự ác cảm đã thể hiện trong mối quan hệ của ta với tiền bạc như thế nào? Có phải ta đã bị nhận nhầm một số điều ham muốn của mình, xem chúng như là đặc tính của bản thân?
- Cái bản ngã ẩn nấp của ta
Ta đang dấu điều gì trong mối liên hệ với tiền bạc? Sự đánh giá nào làm cho ta sợ? Những người giàu thường che giấu sự giàu có của họ, cũng giống như những người phải vật lộn để mưu sinh thì che dấu nợ nần của họ. Khi chúng ta che giấu sự thật, chúng ta trở thành "hạng người lừa đảo". Trong cả hai phương thức, ta đều có thể xuyên tạc sự thật về tiền bạc trong cuộc sống của ta. Và điều đó khiến ta không có được mối những quan hệ đích thực.
Những câu chuyện về tiền bạc của chúng ta rất là mạnh mẽ, chúng có thể giữ cho chúng ta không bị trói chặt vào trong sự ảo tưởng hoặc hướng chúng ta đến với sự hiểu biết sâu sắc. Hãy dùng ý thức để soi rọi vào những vùng vô thức ấy. Một khi ta hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ta thì ta có thể bắt đầu hành động với nhận thức sâu sắc hơn. Đôi khi tất cả chúng ta nhầm lẫn giữa câu chuyện của mình với vấn đề chúng ta là ai. ‘Câu chuyện’ được hiểu là đang làm cho người ta tin theo.
Nhìn ra bên ngoài
Những điều kiện bên trong của chúng ta tạo ra những lỗ hổng mà xã hội phương Tây đã đặt ra để giải quyết. Thật khó để không bị chi phối bởi vô số các giải pháp khắc phục khủng hoảng tài chính và các quy định tấn công chúng ta dồn dập từ bên ngoài. Tuy nhiên, những "giải pháp" đó chỉ có thể định hình và củng cố hiện trạng của chúng ta trong phạm vi hạn hẹp mà thôi chứ không thể khuyến khích chúng ta đưa ra vấn đề đối với những giả định đằng sau chúng.
- Những kế hoạch của ta
Các chuyên gia tiền tệ truyền thống khuyên chúng ta thiết lập những mục tiêu đầy tham vọng, đưa ra những ngân sách cụ thể, và phát triển những kế hoạch tài chính dài hạn. Sự chỉ dẫn của họ chú trọng đến việc kinh doanh nhằm chuẩn bị cho một tương lai không biết trước và bỏ qua giây phút hiện tại, và được dựa trên những giả định rằng: Tất cả chúng ta đều muốn được giàu có, muốn nghỉ hưu sớm, và muốn có thật nhiều thứ xa xỉ... mà không phải đóng thuế. Là người trưởng thành có nghĩa là có một danh sách dài về các mục tiêu tập trung vào vấn đề "hơn nữa". Sự an ninh được đo lường hoàn toàn dựa trên tài chính. Ngay cả lời khuyên được cho là "sáng suốt" nhất cũng dựa trên những giả định này.
- Sự chi tiêu của ta
Trong nền văn hóa của chúng ta, có một ít thói quen đã ăn sâu như là: mong muốn thành đạt, và thích thú trong sự ganh đua để có được món hời, đam mê thành công, hoặc đầu tư một cách khôn ngoan. Những cá tính và niềm vui của chúng ta trở nên gắn bó chặt chẽ với nơi mà chúng ta đặt tiền vào và những gì nơi ấy nói về chúng ta. Chúng ta nuôi lớn những thị hiếu mà chúng cần phải được thể hiện và thỏa mãn, và chúng ta thể hiện dấu vân tay độc đáo của mình với thế giới thông qua những thứ chúng ta lựa chọn, bao gồm cả những sự đầu tư của chúng ta. Ngay cả với yoga, thiền định, và sự giản dị cũng đã bị thương mại hóa. Chúng ta cần phải giữ chánh niệm, tiêu thụ là một lĩnh vực mà chúng ta thường thiếu chánh niệm về nó.
- Thu nhập của ta
Chúng ta không phải là những gì chúng ta kiếm được. Bởi vì chúng ta có thể tính phí 100 Mỹ kim một giờ không có nghĩa là chúng ta nên làm, hoặc là chúng ta khó có thể tính phí 100 Mỹ kim một giờ không có nghĩa là chúng ta không nên làm. Nếu có một nhà tuyển dụng có tiềm năng hỏi về mức lương mà chúng ta yêu cầu, thì mức lương thấp nhất mà chúng ta đưa ra là bao nhiều? Chẳng phải một mức lương hàm ý một bậc lương cao nhất sao? Ta có một mức lương cao nhất "vừa đủ" không? Đồng tiền đã bị gắn kết một cách sai lầm với sự thành công, giá trị và quyền được hưởng. Chính từ sự lúng túng này mà chúng ta hiếm khi tư duy một cách rõ ràng về những gì chúng ta thật sự cần và coi trọng.
Cần phải có sự tập trung cao độ để gỡ rối những vấn đề đã khiến cho suy nghĩ và hành vi của chúng ta liên quan đến tiền bạc trở nên phức tạp. Về phương diện lý trí, chúng ta có thể biết rằng sự an ninh không tùy thuộc vào "vật chất", rằng chúng ta không phải là những gì chúng ta sở hữu, và rằng cuộc sống của chúng ta không đo bằng những gì chúng ta kiếm được. Tuy nhiên, điều này ăn sâu và được tăng cường hầu như ở khắp mọi nơi. Chúng ta đang gánh chịu sức ép mạnh mẽ của những áp lực xã hội về tiền bạc, và để thoát ra khỏi sức ép ấy đòi hỏi chúng ta phải có sự nỗ lực mạnh mẽ tương ứng.
Nhìn vào bức tranh toàn cảnh
Thời gian, năng lượng, và tình cảm là những hình thức của tiền tệ, cũng như đồng tiền. Những gì chúng ta làm với những nguồn tài nguyên quý giá này nói lên một điều chắc thật rằng chúng ta là ai và cái gì quan trọng đối với chúng ta. Chúng ta khẳng định và tái khẳng định chính mình trong việc phân bổ các loại tiền tệ của chúng ta. Những mục đích rõ ràng của chúng ta có thể hình thành một chuẩn mực cho sự tự do tài chính của chúng ta, cũng giống như hơi thở đi vào và đi ra khỏi cơ thể chúng ta có thể là chuẩn mực cho sự thực tập chánh niệm.
- Những giá trị của ta
Cũng giống như cơ thể của chúng ta sắp xếp xung quanh cột sống, Vấn đề tài chính của chúng ta cần phải được sắp xếp theo một bản mẫu về những giá trị của chúng ta. Chúng ta phải luôn khám phá, xác định và kiểm tra các giá trị của mình.
Ta thực sự đại diện cho cái gì? Những nguyên tắc và niềm tin nào ta muốn thể hiện trong cuộc sống của mình? Những nhiệm vụ nào ta muốn ưu tiên? Giới hạn vừa đủ của ta là bao nhiêu? Ta muốn thể hiện những khác biệt gì? Cái giá đích thực về sự nhiều hơn/ít hơn mức vừa đủ đối với cuộc sống, với các mối quan hệ của ta, và với thế giới là gì?
Kết nối những giá trị cốt lõi của chúng ta lại với nhau không phải là một việc đơn giản. Nó đòi hỏi phải có sức mạnh và sự khiêm tốn, và đặt chúng ta vào vị thế phải có tinh thần tự chịu trách nhiệm và có trách nhiệm.
- Tiền bạc của ta
Hãy nhìn rõ ràng vào phương thức mà tiền bạc đã đến với cuộc sống của ta và nơi nó ra đi. Sự thật không trau chuốt về lối mòn tiền bạc của ta nói lên những điều quan trọng. Đấy là những thông tin chi tiết về các vấn đề. Gom mỗi phần phân bổ lại bên mô hình giá trị mẫu của ta và kiểm tra mức độ mâu thuẫn giữa chúng hoặc là xem mức độ tiến triển của các giá trị. Những giá trị của ta hiển thị như thế nào nơi sự thu nhập của cá nhân? Chúng không thể hiện ở điểm nào? Ta có giữ được tiền mà không sợ hãi hay không? Ta có cho đi nhiều hơn ta có thể thực sự đủ khả năng hay không? Có phải ta có nhiều hơn nhu cầu của ta hay không? Hay là ít hơn nhu cầu của ta?
Cuối cùng, liệu pháp đối với việc dễ bị ảnh hưởng trước sự lôi kéo của những vấn đề bên trong của ta và sức hút của các thông điệp về tiền bạc trong xã hội có thể nằm ở nơi việc biết một cách rõ ràng về những gì chúng ta đại diện cho, và sự mong muốn thể hiện điều đó trong mọi quyết định liên quan đến tài chính mà chúng ta đưa ra.
- Sự lựa chọn của ta
Hãy ghi vào những nơi dễ thấy về một vài trong số các giá trị của mình, như là viết chúng trên cuốn sổ séc của ta, trên màn hình máy tính, trên ví tiền và trên thẻ tín dụng. Nhắc nhở chính mình về những gì ta đại diện cho. Hãy thử tạo ra sự cân bằng cho cuốn sổ séc của ta mỗi tháng. Hãy rộng lượng! Hãy ban tặng thứ gì đó có ý nghĩa. Bắt đầu một cuộc trò chuyện tốt đẹp mỗi ngày. Bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả những con đường đưa ta đến sự giàu có. Hãy minh bạch với bạn bè, phát triển cộng đồng. Thể hiện lòng từ bi bằng sự đóng góp nhiệt tình. Ta có thể làm gì nữa để khởi đầu sự dịch chuyển tiền của một cách có chánh niệm trong cuộc sống của ta?
Nếu chúng ta xem mối liên hệ có chánh niệm với tiền bạc như là một kênh thông tin để học tập thì chúng ta có thể thân thiện với những gì chúng ta đã làm ngơ, có thể mở ra những chuyện khó tin mà chúng ta đã che dấu và sống một cuộc sống trọn vẹn hơn là những gì ta muốn và thế giới cần. Để cho tiền bạc nằm ở phía trước và trung tâm trong sự chú ý của ta, chúng ta có thể hít một hơi thở sâu mỗi khi chúng ta đối mặt với khoảnh khắc quan trọng liên quan đến tài chính, và khám phá những khả năng mới mà ta hành xử với tiền bạc để minh họa cho những gì ta thực sự muốn thể hiện trong cuộc sống của mình.
Kristi Nelson
Minh Nguyên dịch
(Dịch từ bài Mind over Money, tạp chí Mindful: Living with awareness and compassion, tr.30 - 33)
(Nguồn: Nguyệt San Giác Ngộ, số 189, ra tháng 12/2011)

Sáu thủ thuật làm chủ thời gian theo lời Phật dạy

Hầu như tất cả mọi người đều than phiền là họ không có đủ thời gian. Nhưng tất cả thời gian đã tiêu tốn vào đâu? Tại sao những công cụ tiết kiệm sức lao động và các phương tiện đi lại, truyền thông nhanh hơn của nhân loại không giải phóng chúng ta? Hoặc ít nhất là cung cấp cho chúng ta khoảng thời gian rảnh rỗi để thực hiện những điều mà chúng ta muốn và cần phải làm, hoặc chỉ đơn giản là làm chậm lại và tận hưởng những gì chúng ta đã làm việc rất khó khăn để tạo ra chúng, tại sao lại không được? Thực ra, không phải chúng ta thiếu thời gian, mà là thiếu sự tập trung, sự tỉnh giác và không biết thiết lập tính ưu tiên. Chúng ta phải thay đổi không gian trong nhịp sống của mình - đánh thức mình bằng cách chuyển sang một cách tồn tại khác. Chúng ta có tất cả các thời gian trên thế giới. Nó hoàn toàn tùy thuộc vào chúng ta, tùy vào cách chúng ta chọn để sử dụng nó ra sao.
Tạo ra không gian trong nhịp sống của mình
 Chánh niệm là nhân tố cốt lõi trên con đường đưa đến sự giác ngộ, tỉnh thức của Đức Phật. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là đề cao bản thân hoặc là sự thoái lui trước sự tự ý thức của một thiếu niên về câu hỏi “Với tôi thì sao?”; mà là sự nhớ đến việc ghi nhớ và luôn sống trong sự ý thức về những gì chúng ta thật sự đang làm ngay trong giây phút này.
Căn bệnh thời gian (time-sickness) là một căn bệnh phổ biến hiện nay. Mọi người nói rằng họ muốn sống chậm lại, muốn sống hài hòa với thiên nhiên hơn và muốn sống khỏe, sống một cách lành mạnh. Nhưng ai là người biết cách để thực sự sống được như thế? Ai có sẵn liều thuốc thời gian (time-medicine), và ai là người đã sẵn sàng, sẵn lòng và có thể sống như thế? Sự tỉnh thức là nhân tố thiết yếu trong cuộc hành trình tuyệt vời này, nó sẽ đem đến cho chúng ta một bức tranh lớn hơn, cũng như những chi tiết trong từng phút giây trên lộ trình ấy.
Nắm giữ bản thân trước khi những thứ khác nắm giữ ta
Annie Dillard đã viết: “Cách chúng ta sử dụng thời gian trong ngày chính là cách chúng ta sống trong cuộc đời”. Sự lựa chọn là hoàn toàn tùy thuộc ở ta. Chúng ta có thể học cách nắm giữ bản thân trước khi những thứ khác nắm giữ và trói buộc ta. Hãy cố gắng thực tập chánh niệm - nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng một cách có ý thức và không hề đánh giá, phê phán - đối với mọi thứ ta làm, ta nói và ta suy nghĩ trước khi ta phản ứng một cách mù quáng.
Nói cách khác, hãy tạm dừng lại và xem xét. Bạn có thực sự muốn chơi trò chơi Angry Birds (một trò chơi điện tử trên máy vi tính), hoặc là chơi đùa với các con trong năm phút? Bạn có thực sự xem chiếu lại của một chương trình truyền hình hay mà không phải là lần đầu tiên xem, hoặc dành một nửa giờ đồng hồ để thực tập thiền? Vùi đầu vào mạng internet, hoặc gối đầu trên gối và có được một giấc ngủ ngon? Với chỉ một khoảnh khắc của sự chú ý sáng suốt, chúng ta có thể nâng cao chất lượng sống trong mỗi phút, mỗi giờ, và cuối cùng là toàn bộ cuộc sống của chúng ta.
Định hình lại ý thức của mình
Đôi khi chỉ cần sự định hình lại quan điểm, ý nghĩ của chúng ta một cách đơn giản là đã có thể làm thay đổi cuộc sống của ta. Tôi nhớ rõ rằng, khi tôi có ý thức và tập trung chuyển đổi công việc thật là chán phèo, dắt chó đi dạo hai lần một ngày, thành một khoảng thời gian đáng sống, và thế là nó đã trở thành khoảng thời gian tốt đẹp nhất trong ngày của tôi. Con chó Lili lông vàng, người bạn đồng hành trung thành của tôi đã giúp tôi định hình lại việc dắt chó đi bộ như là việc thiền hành. Tôi có thể chan hòa với thiên nhiên, hòa mình vào thế giới, chan hòa với những người hàng xóm của tôi, và với bản thân tôi, phát triển một thái độ bao dung hơn, và thậm chí là có được một bài tập thể dục nhẹ. Tất cả những thứ đó chỉ cần một sự điều chỉnh nhỏ trong ý thức và quan điểm của ta mà thôi. Tôi gọi điều này là “định hình lại ý thức”. Đấy là một việc làm khá dễ dàng, thoải mái và cực kỳ bổ ích.
Làm chủ cơn giận một cách có chánh niệm
Học để biết sử dụng cái mà tôi gọi là “cái nêm của sự tỉnh giác”. Đưa sự tỉnh thức của ta vào giữa những ý nghĩ, lời nói và hành động của mình - những kích thích bên ngoài - và sự phản ứng bên trong của ta. Nếu có ai đó làm cản trở bạn trong lúc đi đường, hãy dừng lại một cách có ý thức và để cho nó qua đi, đừng bám víu vào cơn thịnh nộ khi bạn lái xe và đừng để cho hành động của người khác đánh cắp thời gian của bạn. Đây là sự thực tập đơn giản về sự không chấp thủ - nó giống như việc quay trở về với hơi thở một lần nữa, một lần nữa và một lần nữa trong thiền định - có thể rất là hữu ích, bởi vì nó giải thoát chúng ta khỏi sự tức giận, hối tiếc và cảm giác tội lỗi, và cuối cùng là giải phóng thời gian của chúng ta. Đấy chính là trọng tâm của điều mà tôi gọi là “làm chủ cơn giận một cách có chánh niệm”, và có thể được áp dụng để ứng xử với bất kỳ loại cảm xúc nào.
Tự hỏi: Liệu nó có xứng đáng để tôi dành thời gian không?
Đây là một câu hỏi đơn giản, nhưng tự hỏi như thế sẽ giúp ta chuyển đổi thời gian bị lãng phí thành thời gian được sử dụng một cách hữu ích. Tại sao chúng ta không tiết kiệm và đầu tư thời gian một cách cẩn thận như chúng ta đã làm đối với tiền bạc, vì thời gian có giá trị hơn và không thể thay thế được? Thay vì thế, chúng ta thường cho thời gian trôi qua. Chúng ta phí phạm, lãng phí và giết chết nó. Tất cả chúng ta đều làm tốt trong việc xem xét sự cân bằng giữa nhu cầu thực tế của mình và sự tham lam, niềm đam mê. Chúng ta có thường trả lời ‘vâng’ đối với những thứ mà chúng ta không muốn không? Thay vì nói ‘vâng’ với chính mình, chúng ta nói ‘không’ một cách khéo léo đối với những nhu cầu và những mong muốn vô lý.
Thời gian là thứ mà chúng ta tạo ra. Thời gian của ta là thuộc của riêng ta. Việc xem vô tuyến hay lướt net hàng giờ có thực sự làm cho ta hạnh phúc hơn hay tốt hơn không? Chúng ta đang sống trong thời đại có quá nhiều thông tin, nhưng biết về thế giới và người khác chỉ là kiến ​​thức, biết về chính mình mới là trí tuệ. Hãy quán xét và tìm hiểu sâu hơn.
Dùng thời gian để tạo ra thời gian
Tôi nhận thấy rằng tôi có thể có tất cả thời gian trên thế giới nếu và khi tôi tập trung và chú ý đến những thứ quan trọng nhất và thực sự cần phải được thực hiện, và duy trì sự tỉnh thức cao độ trong quá trình thực hiện. Cho nên khi người ta hỏi tôi, tôi thường khuyên họ dùng thời gian để tạo ra thời gian cho bản thân họ và cho những giá trị chân chính và những thứ ưu tiên của họ. Sự chủ định là tất cả mọi thứ: chú tâm một cách có chủ ý. Nên biết rõ ta đang ở đâu và nơi ta không trú ở - ở quá khứ và tương lai. Thời gian là một đầy tớ tuyệt vời, nhưng lại là một vị chủ tồi tệ, bạn phải dùng thời gian để tạo ra thời gian, bằng cách chú tâm tạo ra không gian trong nhịp sống của mình. Hoặc là ngay bây giờ hay là không bao giờ, luôn như thế. Ai có thể có đủ khả năng để chờ đợi? Tốt hơn chúng ta nên tỉnh thức đối với cuộc sống của mình, bằng cách tham gia một cách trọn vẹn vào những gì chúng ta đang làm ngay bây giờ, tỉnh giác đối với những lời nói, suy nghĩ và hành động của chúng ta.
Sống một cách có chủ ý với sự tỉnh thức có thể là một điều khó khăn, nhưng lại là một sự khó khăn hữu ích. Quay trở về với lối sống chạy theo thói quen thì dễ dàng hơn nhiều. Thật là hữu ích nếu ta thực tập nhớ về sự ghi nhớ, nhớ lại những thứ ta đang làm trong khi ta đang thực sự tiến hành. Hãy dành ra một hơi thở để nghỉ ngơi nhằm làm tươi mới sự tỉnh thức đối với hiện tại, trở về với giây phút hiện tại và bắt đầu trở lại - tỉnh táo, sáng suốt, tập trung, bình tĩnh và tràn đầy sinh lực.
Sử dụng các phương pháp tỉnh thức với giây phút hiện tại đã giúp tôi tỉnh giác và tìm thấy chính mình trong lĩnh vực thiêng liêng trong chuẩn mực thời gian của Đức Phật, hiện tại thiêng liêng, và nhiều hơn nữa mỗi ngày. Chúng cũng có thể giúp ích cho bạn, ngay bây giờ. Ai có thể có đủ khả năng để chờ đợi?
Lama Surya Das - Minh Phú dịch
(Theo Huffington Post)
Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ, số 188, ra tháng 11-2011)

Nói xấu người khác: Những hậu quả và cách chuyển hóa

“Tôi nguyện không nói lỗi lầm của người khác”. Trong truyền thống Phật giáo, đây là một trong những lời nguyện của Bồ tát. Đối với những vị tu sĩ thọ Cụ túc giới, một nguyên tắc tương tự được đề cập đến trong lời phát nguyện là không nói lời phỉ báng. Điều này cũng được nhắc đến trong lời khuyên của Đức Phật đối với tất cả mọi người để tránh 10 bất thiện nghiệp, đó là bất thiện nghiệp thứ năm: nói những lời gây bất hòa, chia rẽ.
Nhiều người có thói quen ưa nói lỗi lầm của người khác. Và đôi khi chính họ không nhận thấy thói quen ấy và chỉ nhận diện được nó sau khi đã nói xong. Vậy thì động cơ ở đằng sau việc nói lỗi lầm của người khác, đằng sau xu hướng muốn hạ thấp người khác là gì? Một trong số những minh sư của tôi, ngài Ngawang Dhargye đã từng nói: “Quý vị ngồi lại với nhau và nói về lỗi lầm của một người khác, về những việc làm sai trái của người đó. Thế rồi quý vị tiếp tục thảo luận về những sai phạm và những phẩm chất tiêu cực của người khác, bởi vì quý vị tự thừa nhận với nhau rằng quý vị là những người tốt nhất trên thế giới”.
Khi tôi nhìn sâu vào bên trong, tôi nhận thấy rằng ngài Ngawang Dhargye đã nói đúng. Bị nung nấu bởi cảm giác bất an, tôi đã nghĩ sai rằng nếu người khác sai, xấu, đầy khuyết điểm, theo phép so sánh, thì tôi phải là người đúng, tốt và có năng lực. Chiến thuật hạ nhục người khác để tạo dựng lòng tự trọng của mình theo cách này rất khó có kết quả.
Lúc chúng ta tức giận người khác cũng là lúc chúng ta thường nói xấu họ. Trong trường hợp này chúng ta có thể nói lỗi của người khác vì một vài nguyên do khác nhau. Đôi khi chúng ta nói xấu người khác để kéo mọi người đứng về phía mình. Chúng ta nghĩ rằng, nếu ta kể cho mọi người nghe về sự tranh luận giữa ta với anh A rồi thuyết phục mọi người rằng anh A sai và mình đúng. Như thế thì mọi người sẽ đứng về phía chúng ta. Chính vì ý nghĩ rằng: “Nếu mọi người nghĩ mình đúng thì chắc hẳn là mình đúng”. Việc tự nghĩ rằng mình đúng như thế ấy là một việc làm kém cõi trong khi chúng ta không chịu dành thời gian để đánh giá một cách trung thực đối với những việc làm và động cơ của chúng ta.
Có khi chúng ta nói xấu người khác vì chúng ta ganh ghét họ. Chúng ta muốn được mọi người tôn trọng và đánh giá cao như người kia vậy. Từ trong sâu thẳm chúng ta nghĩ rằng: “Nếu mọi người thấy những phẩm chất xấu của người mà mình nghĩ là tốt hơn mình thì thay vì tôn trọng và giúp đỡ người đó, họ sẽ khen ngợi và hỗ trợ mình”. Chiêu bài mà chúng ta dùng để giành lấy sự tôn trọng và đánh giá cao của người khác theo cách này có rất khó mang lại hiệu quả.
Nói xấu người khác đem đến những hậu quả gì? Trước hết, chúng ta sẽ được biết đến như là một người thường gây ra sự bất hòa. Người ta sẽ không muốn tâm sự với chúng ta vì họ sợ là chúng ta sẽ nói với người khác, thêm thắt những lời đánh giá của ta khiến cho họ bị xem là không tốt. Theo kinh nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy rằng người nào hay nói xấu người khác với tôi thì chắc hẳn họ sẽ đi nói xấu tôi với người khác. Hay nói cách khác, tôi không tin tưởng những ai thường hay phê bình người khác.
Thứ hai, chúng ta phải đối mặt với người bị chúng ta nói xấu khi họ phát hiện ra những gì chúng ta đã nói, và phiền phức hơn là lúc họ nghe được những gì chúng ta đã nói xấu về họ thì những điều đó đã bị phóng đại lên nhiều lần. Người đó có thể nói với người khác về lỗi của mình để trả đũa.
Thứ ba, một số người có thể sẽ bị kích động khi nghe nói về lõi của người khác. Chẳng hạn, nếu một người ở trong văn phòng hoặc trong nhà máy nói xấu sau lưng người khác, mọi người ở tại nơi làm việc có thể sẽ tức giận và công kích người đã bị nói xấu. Điều này có thể sẽ làm dấy lên việc nói xấu sau lưng người khác ở sở làm và gây ra tình trạng bè phái. Điều này gây tổn hại đến một môi trường làm việc hòa hợp.
Thứ tư, chính bản thân ta cũng không có hạnh phúc khi mình luôn phanh phui lỗi của người khác. Khi chúng ta tập trung vào những điểm tiêu cực, hoặc là những sai lầm, chính tâm của chúng ta cũng không có an vui. Những ý nghĩ rằng người này xấu, người kia không tốt,... thường không có lợi cho tinh thần của chúng ta.
Thứ năm, khi ta nói xấu người khác tức là chúng ta đã gây ra tác nhân để cho người khác nói xấu mình. Điều này có thể xuất hiện ngay trong đời này nếu người mà ta phê bình muốn hạ nhục mình, hoặc có thể xuất hiện trong tương lai khi mình bị người khác buộc tội một cách vô lối hoặc là bị vu oan. Khi chúng ta là người nghe những lời nói thô tục, chúng ta cần nhớ rằng đấy là kết quả từ hành động của chính chúng ta, chúng ta đã tạo ra nhân, nay đã đến lúc phải nhận quả. Chúng ta đã gây ra sự tiêu cực ở trong vũ trụ và trong tâm thức của mình, bây giờ nó trở lại với chúng ta. Không có lý do gì để giận hay buộc tội người khác khi chúng ta là người đã tạo ra nguyên nhân chính yếu đối với rắc rối của mình.
Tuy nhiên, có một số trường hợp có vẻ như là nói lỗi của người khác nhưng lại là cần thiết, nên nói. Mặc dù những trường hợp này rất giống với việc phê bình người khác, nhưng thực ra thì chúng không giống nhau. Điểm khác nhau ở đây là gì? Đấy chính là động cơ của ta. Nói lỗi của người khác thường là có ác tâm ở bên trong và thường bị thúc đẩy bởi động cơ ích kỷ. Bản ngã của ta muốn có được điều gì đó từ việc nói xấu người khác, nó muốn được tốt bằng cách hạ nhục người khác. Ngược lại, sự bàn thảo chính đáng về những lỗi lầm của người khác thường xuất phát từ sự quan tâm giúp đỡ và tâm thương yêu, chúng ta muốn làm rõ sự tình, ngăn chặn nguy hại, hoặc là muốn giúp đỡ. Chẳng hạn như khi chúng ta phải viết thư giới thiệu cho ai đó mà người ấy không được tốt lắm, chúng ta phải trung thực, phải đề cập đến những ưu điểm cũng như nhược điểm của anh ta để cho người chủ tương lai hoặc là chủ nhà của họ có thể quyết định xem người đó có thể làm những gì mà họ mong muốn hay không. Tương tự như vậy, chúng ta có thể phải báo trước về những thói quen của ai đó để cảnh báo những rắc rối có nguy cơ xảy ra. Trong cả hai trường hợp này, động cơ của ta là không phải để phê bình người khác, cũng không phải để thêm thắt những điều mà người đó không có. Chúng ta chỉ muốn đưa ra một lời diễn tả không có thành kiến về những gì chúng ta thấy mà thôi.
Đôi khi ta nghi ngờ rằng việc nhìn nhận của chúng ta về những tiêu cực của một ai đó có thể bị hạn chế, bị định kiến, cho nên ta nói với một người bạn mà người bạn đó không hề biết gì về người kia, nhưng người bạn đó có thể giúp ta nhìn thấy những khía cạnh khác. Điều này đem đến cho ta những ý tưởng, quan điểm có tính xây dựng, tích cực hơn và giúp cho ta biết cách để ứng xử với người kia. Người bạn của ta cũng có thể chỉ cho ta thấy những điểm nút của mình - những sự phản kháng và các vấn đề tế nhị - những điều mà ta đang phóng đại về điểm yếu kém của người khác, nhờ vậy mà ta có thể điều chỉnh cho phù hợp.
Có khi chúng ta không rõ về những việc người khác làm nên nhờ một người bạn - là bạn của mình và người đó - tư vấn để biết thêm về hoàn cảnh người đó, và từ đó đánh giá, ứng xử với họ một cách hợp lý. Hoặc là chúng ta phải tiếp xúc với một người mà mình nghi là họ có vấn đề, nên mình nhờ đến các chuyên gia tư vấn để biết cách ứng xử với người đó. Trong cả hai trường hợp này, chúng ta phải nói cho người bạn hoặc là chuyên gia nghe về những vấn đề, những việc không tốt của người khác, nhưng động cơ của mình là muốn giúp họ và muốn giải quyết sự khó khăn.
Trong một trường hợp khác, một người quen của mình có thể không biết là họ đang có hành vi gây tổn hại người khác hoặc là hành xử theo lối hạ nhục người khác. Để bảo vệ người ấy khỏi phải tai họa do sự thiếu sáng suốt của chính họ gây ra, chúng ta có thể nói cho họ biết rõ điều mà họ làm. Ở đây chúng ta nói không phải với giọng phê bình hay là thái độ xét nét mà nói với lòng thương yêu, nhằm chỉ ra lỗi lầm hoặc sai phạm của người đó để rồi anh ta có thể khắc phục.
Chúng ta thường có thói quen nói lỗi của người khác. Để từ bỏ thói quen này thì chúng ta phải bắt đầu từ việc điều chỉnh thói quen đánh giá người khác. Thay vì đánh giá, phê bình người khác, chúng ta hãy lưu tâm đến những phẩm chất tốt và sự tử tế của người khác. Chúng ta cần phải rèn luyên tâm của mình, chỉ nhìn những điểm tốt, những điều tích cực của người khác. Rèn luyện như thế thì sẽ tao nên sự khác biệt giữa niềm hạnh phúc, cởi mở và thương yêu của ta với sự buồn khổ, khó gần và khắt khe.
Chúng ta cần phải cố gắng để trau dồi thói quen chú ý vào những điều tốt đẹp, đáng yêu, đáng quý ở nơi người khác. Nếu chúng ta để ý những thứ đó thì chúng ta sẽ không lưu tâm đến những lỗi lầm của họ. Thái độ vui vẻ và lời nói bao dung xuất phát từ việc này sẽ cải thiện những người xung quanh và sẽ nuôi lớn hạnh phúc, sự mãn nguyện và tình thương yêu ở trong ta. Vì thế, chất lượng cuộc sống của ta tùy thuộc vào việc chúng ta tìm thấy lỗi lầm với kinh nghiệm của mình hay là thấy những gì tốt đẹp ở bên trong nó.
Khi chúng ta nhìn thấy lỗi lầm của người khác là chúng ta bỏ lỡ cơ hội để thương yêu. Nó cũng có nghĩa là chúng ta không có khả năng để nuôi dưỡng bản thân một cách hợp lý với những sự hiểu biết chân tình khi chúng ta đem vào tâm mình những độc tố. Khi chúng ta có thói quen xăm xoi lỗi của người khác thì chúng ta cũng có xu hướng chỉ nhìn thấy những khuyết điểm, những lỗi lầm của bản thân. Điều này có thể đưa chúng ta đến việc làm giảm giá trị toàn bộ cuộc sống của mình. Thật là bi thảm nếu chúng ta bỏ qua những điều quý giá và cơ hội trong cuộc sống của mình, không nhìn thấy khả năng thành Phật trong bản thân mình. Vì thế, chúng ta phải chấp nhận chính mình như những gì mình đang có trong hiện tại, đồng thời chúng ta cố gắng để trở nên những con người tốt hơn trong tương lai. Nói vậy không có nghĩa là chúng ta làm ngơ trước những lỗi lầm của mình, mà là chúng ta không quá miệt thị về chúng. Chúng ta mừng vì mình được làm người, tự tin về khả năng của mình và tự tin về những giá trị chân thực mà chúng ta đã gầy dựng từ trước đến nay.
Mọi người đều muốn được thương yêu – muốn được mọi người chú ý và thừa nhận những khía cạnh tích cực của bản thân, muốn được quan tâm và tôn trọng. Hầu hết chúng ta đều không muốn bị đánh giá, bị phê bình và từ chối. Việc trau dồi thói quen nhìn thấy những điều tốt đẹp của bản thân và của người khác mà có thể đem lại cho mình và người niềm hạnh phúc, nó cho phép chúng ta cảm nhận và mở rộng tình thương yêu. Từ bỏ thói quen nhìn thấy lỗi lầm sẽ giảm thiểu sự đau khổ cho mình và người. Vấn đề này nên được xem là trọng tâm trong lộ trình tâm linh của chúng ta. Chính vì lý do này mà đức Dalai Lama đã nói: “Tôn giáo của tôi là lòng tốt”. Chúng ta có thể vẫn thấy những điều chưa hoàn thiện của mình và của người khác, nhưng tâm chúng ta hiền dịu hơn, biết chấp nhận và rộng lượng hơn.
Đối lập với việc nói xấu người khác là nói với sự hiểu biết và thương yêu. Những ai đang đi trên lộ trình tâm linh và những ai muốn sống hòa hợp với người khác thì việc phát ngôn với sự hiểu biết và thương yêu là điều rất quan trọng. Khi chúng ta nhìn vào những phẩm chất tốt của người khác, chúng ta cảm thấy hạnh phúc. Việc thừa nhận những phẩm chất tốt của người khác khiến cho lòng mình cảm thấy hạnh phúc, nó còn tạo ra bầu không khí hài hòa và đem đến cho người khác thông tin phản hồi hữu ích.
Khen ngợi người khác là một việc mà chúng ta cần phải thực tập trong quá trình tu tập của mình. Nếu chúng ta thường nghĩ đến những tài năng, những phẩm chất tốt của người khác thì chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn và người khác cũng vậy. Chúng ta sẽ tạo được mối quan hệ tốt đẹp với người khác, và gia đình của chúng ta, môi trường làm việc và hoàn cảnh sống của chúng ta sẽ hòa hợp hơn. Chúng ta gieo những hạt giống từ những hành vi tích cực ấy ở trong tâm thức của mình, chúng ta sẽ tạo nhân duyên cho những mối quan hệ hòa ái và cho sự thành tựu những mục đích tâm linh cũng như những mục đích trong cuộc sống đời thường. 
Ni sư Thubten Chodron
Quảng Trí dịch 
(Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ số 187, ra tháng 10/2011)

Hội Văn bản Pali, nơi lưu trữ và phiên dịch kinh điển quan trọng của Phật giáo

Hội Văn bản Pali (Pali Text Society - PTS) do học giả Thomas William Rhys Davids, một chuyên gia ngôn ngữ người Anh, sáng lập nên vào năm 1881 tại Luân Ðôn, Anh quốc. Mục đích của ông Rhys Davids khi sáng lập hội là để khuyến khích và thúc đẩy việc nghiên cứu các kinh điển bằng tiếng Pali và tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu Phật giáo Nguyên thủy. Hội tiến hành xuất bản kinh điển Pali bằng ký tự La Mã, xuất bản những bản dịch bằng tiếng Anh và những tác phẩm liên quan như là từ điển Pali - Anh, thư mục, và các sách giáo khoa dành cho học viên học tiếng Pali và một tờ tập san của hội.
Pali là một cái tên được đặt cho loại ngôn ngữ dùng để ghi chép các kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy. Tuy nhiên, theo cách lập luận truyền thống của các nhà nghiên cứu thuộc Phật giáo Nguyên thủy thì ngôn ngữ trong kinh điển là tiếng Magadhi, một loại ngôn ngữ đã được chính Đức Phật Thích Ca sử dụng để giảng dạy vào thời bấy giờ. Thuật ngữ “Pali” sơ khởi là dùng để nói đến một bản kinh hay là một đoạn văn chứ không phải là một loại ngôn ngữ. Cách dùng hiện tại của nó là bắt nguồn từ việc hiểu nhầm về nó xuất hiện cách đây vài thế kỷ. Ngôn ngữ trong kinh điển Nguyên thủy là một phiên bản của một loại phương ngữ của vùng Trung Ấn - Aryan, chứ không phải là Magadhi. Ngôn ngữ ấy được tạo ra từ sự đồng hóa các phương ngữ mà ở đấy những lời dạy của Đức Phật được ghi nhớ và truyền lại bằng miệng. Điều này trở nên cần thiết khi Phật giáo đã được truyền bá rộng ra khỏi khu vực khởi thủy của nó, và khi Tăng đoàn tiến hành việc hệ thống hóa kinh điển.
Cho tới nay thì hầu hết các kinh điển và những tác phẩm luận giải đã được hội biên tập và nhiều tác phẩm đã được dịch sang tiếng Anh. Hội muốn hầu hết các công trình của hội đều được in ra và mỗi năm thì cho ra đời ít nhất là hai quyển sách mới và một tập san của hội.
Hội Văn bản Pali là một tổ chức phi lợi nhuận, ngân quỹ cho sự hoạt động của hội chủ yếu dựa vào các ấn phẩm xuất bản của hội, vào việc đặt mua dài hạn của các thành viên và dựa vào sự ủng hộ của các nhà hảo tâm. Cùng với các hoạt động xuất bản, hội còn cấp các suất học bổng cho một vài nghiên cứu sinh nghiên cứu về lĩnh vực ngôn ngữ Pali ở một số quốc gia. Đồng thời hội cũng hỗ trợ dự án Kinh lá bối, một dự án nhằm nhận dạng và bảo tồn những bản kinh được ghi chép trên lá bối ở các nước thuộc vùng Đông Nam Á. 
Ông Rhys Davids là một trong ba viên chức của chính quyền Hoàng gia Anh đã được cử qua Tích Lan vào thế kỷ thứ 19. Hai viên chức khác đó là ông George Turnour và ông Robert Caesar Childers (1838–1876). Vào thời bấy giờ, Phật giáo ở Tích Lan đang phải đấu tranh để tồn tại và phát triển trước những áp lực, điều lệ của ngoại bang và trước hoạt động truyền giáo mạnh mẽ của các đoàn truyền đạo Thiên Chúa giáo.
Trong chính sách thống trị của thực dân Anh, có một yêu cầu đối với tất cả người viên chức nhà nước là họ phải làm quen với ngôn ngữ, văn học và văn hóa của vùng đất mà họ được điều đến làm việc. Chính vì chính sách này cho nên ba viên chức trên đã học với các vị Tăng sĩ lỗi lạc ở Tích Lan. Cùng với việc học văn hóa và ngôn ngữ Sinhala, họ còn được học kinh điển Phật giáo bằng tiếng Pali. Qua đó họ đã hiểu về giáo lý đạo Phật và hứng thú trong việc nghiên cứu và tu học theo Phật giáo.
Chính vì vậy mà vào năm 1881, ông Rhys Davids cùng với vợ là bà Caroline Augusta Davids thành lập Hội Văn bản Pali tại Luân Ðôn. Ðây là một tổ chức Phật giáo đầu tiên tại Anh quốc với sự tham gia của nhiều học giả nổi tiếng ở Âu châu và Á châu.
Ông Rhys Davids có đến bốn bằng tiến sĩ (tiến sĩ triết học, sử học, ngôn ngữ học và văn chương). Kể từ khi thành lập hội, ông đã dành trọn thời gian còn lại của đời mình cho công việc nghiên cứu, phiên dịch và ấn hành Tam tạng Văn bản Pali (Pali Tipitaka). Ngoài việc tham gia công tác phiên dịch, biên tập…, ông Rhys Davids còn biên soạn những sách Phật giáo có giá trị như: Từ điển Pali - Anh (Pali - English Dictionary), in lần thứ nhất vào năm 1921, được tái bản vào các năm 1925, 1992 và 1995; Những câu hỏi của vua Milinda, phần I (Questions of King Milinda, Part 1), xuất bản năm 1890; Lịch sử và văn học của Phật giáo (The History and Literature of Buddhism) xuất bản năm 1896; Những pháp thoại của Ðức Phật, tập I (Dialogues of The Buddha, V.1), xuất bản năm 1899; Lịch sử Phật giáo Ấn Ðộ (History of Indian Buddhism), xuất bản năm 1903; Giáo lý về nghiệp trong Phật giáo (The Buddhist Theory of Karma), xuất bản năm 2005; Bí mật của đạo Phật (The Secret of Buddhism), xuất bản năm 2005...
Bên cạnh việc điều hành hoạt động của hội, biên tập, phiên dịch, viết sách báo, ông Rhys Devids còn đi diễn thuyết ở trong nước và ở nước ngoài. Trong đó, Tích Lan và Hoa Kỳ là hai quốc gia mà ông thường xuyên đến. Ông làm việc không biết mỏi mệt cho đến cuối đời và đã ông tạ thế vào năm 1922. Vào thời điểm đó, Hội Văn bản Pali đã in được 70 quyển kinh sách các loại (cả bản gốc Pali và bản dịch).
Cho đến nay, Hội Văn bản Pali đã trải qua hơn 130, và qua chín đời chủ tịch, lần lượt như sau:
1) 1881-1922: Ông Thomas William Rhys Davids (1843-1922) (người sáng lập).
2) 1922-1942: Bà Caroline Augusta Foley Rhys Davids (1857-1942) (vợ của ông Rhys Devids).
3) 1942-1950: Ông William Henry Denham Rouse (1863-1950)
4) 1950-1958: Ông William Stede (1882-1958)
5) 1959-1981: Bà Isaline Blew Horner (1896-1981)
6) 1981-1994: Ông Kenneth Roy Norman (1925)
7) 1994-2002: Ông Richard Francis Gombrich (1937)
8) 2002-2003: Ông Lance Selwyn Cousins
9) 2003-hiện tại: Ông Rupert Mark Lovell Gethin (1957)
Với tôn chỉ phi lợi nhuận, ngay từ những ngày đầu của hội, ông Davids đã nhanh chóng tập hợp được một nhóm học giả, các chuyên gia ngôn ngữ học để biên tập lại Tam tạng kinh điển tiếng Pali. Nổi bật trong nhóm này có các vị như R. Morris, E. Hardy, M. Hunt, E. Muller, J. Minayeff, E. R. Gooneratne, J. E. Carpenter, E. Windisch, W. Trenckner, R. Chalmers, L. Feer, H. Bode, H. Oldenberg, Wilhelm Geiger, E. B. Cowell, P. S. Jaini, E. W. Burlingame, James Gray, J. S. Speyer, Pe Paung Tin… đồng thời công bố danh sách các mạnh thường quân trên khắp thế giới tài trợ cho công trình vĩ đại này, một trong những nhà tài trợ chính cho hội lúc bấy giờ là vua của Thái Lan. Công việc của hội khởi đầu được chia thành hai phần: Một là in lại toàn bộ Tam tạng Pali để bảo tồn giá trị nguyên thủy của nó và hai là chuyển ngữ ra tiếng Anh để cho thế giới phương Tây tiện bề học hỏi. Ðể cho mọi giới biết rõ mục đích của Hội, vào năm 1882, ông Rhys Davids đã cho xuất bản tập san của hội (Journal of the Pali Text Society), tờ báo đã nhanh chóng thu hút giới trí thức ở châu Âu.
Vào năm 1994, Hội Văn bản Pali đã khởi động dự án Kinh lá bối. Đây là một dự án nhằm phân loại và bảo tồn những bản kinh Phật giáo được chép trên lá bối ở các nước thuộc vùng Đông Nam Á. Trước khi biết đến việc in ấn và những kỹ thuật in ấn trên giấy của phương Tây, những văn bản ở Đông Nam Á, bao gồm cả những bản kinh bằng tiếng Pali, đã được bảo tồn một cách đặc biệt bằng việc ghi lại trên lá được lấy từ cây cọ dừa. Những chiếc lá ấy được kết lại với nhau để tạo nên một bản thảo hoàn chỉnh.
Mặc dù việc ghi chép trên lá bối chắc chắn đã được sử dụng trước thế kỷ thứ 5, nhưng những bản mẫu hiện còn chỉ có niên đại từ thế kỷ thứ 18 hoặc sau đó, với một số lượng lớn được tạo ra trong suốt thế kỷ thứ 19. Bởi vì chất liệu được dùng để ghi chép là lá bối, và do ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, những bản thảo từ thời kỳ đầu phần lớn không còn được nguyên vẹn, nhiều bản văn bị hư hại nghiêm trọng. Trong thời kỳ thuộc địa, nhiều bản văn trên lá bối đã bị tháo gỡ và phá hủy, một số trang trong các văn bản đã bị gỡ bán làm đồ trang trí nghệ thuật cho những người sưu tầm đồ cổ ở phương Tây.
Hội Văn bản Pali đã xây dựng dự án Kinh điển lá bối để thu thập, phân loại và bảo tồn những kinh điển trên lá bối, bao gồm cả việc scan những bản kinh ấy sang phiên bản điện tử để cho các nhà nghiên cứu dễ dàng tiếp cận và tránh nguy cơ bị hư hại. Vào năm 2001, dự án này đã được đăng ký chính thức như là một tổ chức phi lợi nhuận ở Thái Lan. Hiện tại, trong bộ sưu tập của tổ chức này có hơn 5.000 bản thảo với hơn 10.000 đề tài khác nhau. Các bản thảo này đang được scan với sự hợp tác của Viện Nghiên cứu Quốc tế Lumbini, Nepal. Việc nhập cơ sở dữ liệu thì được Hội Văn bản Pali hỗ trợ.
Theo thông báo chính thức trên trang web của hội, hiện tại Hội Văn bản Pali đã in và phát hành nhiều nội dung thuộc Kinh, Luật, Luận bằng tiếng Pali. Bên cạnh đó, hội cũng đã tiến hành chuyển ngữ sang tiếng Anh, và đã xuất bản nhiều kinh điển giá trị, điển hình như là: “Trường Bộ Kinh” (3 tập),  “Trung Bộ Kinh” (3 tập), “Tăng Chi Bộ Kinh” (5 tập), “Tương Ưng Bộ Kinh” (5 tập), “Tiểu Bộ Kinh”, “Chuyện tiền thân của Đức Phật” (6 tập), “Thắng pháp tập yếu luận”, “Pháp Cú sớ giải” (5 tập); “Kinh Bổn Sám” (6 tập), “Truyện cổ Phật giáo” (3 tập), “Kinh Pháp Cú” (tập 1), “Kinh Na Tiên Vấn Đáp” (2 tập), “Luật Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni”, “Luận giải về luật tạng”, “Lịch sử Đức Phật Thích Ca”... Đồng thời hội đã tiến hành xuất bản được 28 số tạp chí của hội và nhiều sách tham khảo, sách giáo khoa có giá trị, như là: “Từ điển Pali-Anh”, “Từ điển tiếng Pali”, “Từ điển những danh từ riêng trong tiếng Pali”,...
Hiện tại, hội đang đẩy mạnh việc phát triển và mở rộng chi nhánh của hội ở khắp nơi trên thế giới. Hiện nay hội đã có các văn phòng đại diện ở Mỹ, New Zealand, Thái Lan, Ấn Ðộ, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Với những thành quả đáng khâm phục sau 130 năm hoạt động như thế, cho nên mọi thành viên của Hội Văn bản Pali tại Anh quốc luôn nhìn về tương lai, với một niềm tin lớn lao trong quá trình đóng góp công sức của hội vào việc truyền bá lời Phật dạy đến cho nhân loại, đặc biệt là đến với người phương Tây. Hội Văn bản Pali đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc truyền bá đạo Phật ở phương Tây cũng như trong việc bảo tồn và lưu giữ kinh điển bằng tiếng Pali.
Minh Nguyên
(Nguồn: Nguyệt San Giác Ngộ số 186, ra tháng 9/2011)
Tài liệu tham khảo:
1. About The Pali Text Society, www.palitext.com.
2. Palitext Society, www.wikipedia.com
3. Lindsay Jones (Editor in Chief), Encyclopedia of Religion, Second Edition, Thomson Gale, 2005, Pali Text Society, Grace G. Burford (2005), tr.6955-6957.

Tính nhất quán trong giáo lý của đạo Phật

Đối với những người mới bước đầu học Phật, họ bắt gặp những lời dạy của Phật, những nội dung trong kinh điển có vẻ như mâu thuẫn, trái ngược nhau, khiến cho họ hoang mang, không biết nên nhận định những vấn đề đó như thế nào. Họ cảm thấy hoài nghi: “Phải chăng giáo lý của đạo Phật thiếu tính nhất quán?”. Sự hoài nghi, hoang mang ấy, nếu không sớm được giải tỏa thì sẽ làm cho họ lung lay niềm tin đối với đạo Phật, với giáo pháp của Phật. Điều này sẽ khiến họ chậm tiến bộ, thậm chí là thoái bộ, trong quá trình tu học. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ giúp quý vị hiểu rõ tại sao lại có những lời dạy, những nội dung kinh điển có vẻ như mâu thuẫn, trái ngược nhau như vậy.

Đem sự hòa hợp, an vui đến nơi làm việc *

Hầu hết mọi người đều dành phần lớn thời gian trong ngày ở nơi làm việc. Vì thế, hợp nhất sự thực hành giáo pháp với hoạt động lao động hằng ngày của chúng ta là vấn đề quan trọng. Chúng ta có thể làm điều này theo những cách thức sau: Phát khởi động cơ tốt, ý thức rõ về cách chúng ta giao tiếp với người khác, và loại bỏ những hành vi bất thường, những thói quen cũ.

Hiểu nhau để cùng nhau sống trong tình thương yêu

Trải qua nhiều năm đã khiến tôi đi đến một kết luận rằng: Con người, về cơ bản, là xung khắc với nhau. Chúng ta là những cá nhân khác nhau, chúng ta có thời thơ ấu khác nhau, và ở bất kỳ mọi thời điểm nhất định, tư tưởng và cảm xúc của chúng ta chắc chắn khác với tư tưởng và cảm xúc của bất cứ người nào khác, thậm chí ngay cả những người gần gũi nhất và thân thiết nhất của chúng ta. Được tạo ra bởi những khác biệt về cấu trúc gene, điều kiện và hoàn cảnh của cuộc sống, đấy là một sự mầu nhiệm mà chúng ta có được.

 
Design by Wordpress Theme | Bloggerized by Free Blogger Templates
Khi sử dụng tài liệu từ blog này, vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn tài liệu. Cảm ơn!