Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật giáo nước ngoài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật giáo nước ngoài. Hiển thị tất cả bài đăng

Cộng đồng Phật giáo tổ chức Lễ hội phóng đăng ở Hawai'i, Hoa Kỳ


Lễ hội phóng đăng ở Hawaii (Lantern Floating Hawai'i) là một lễ hội của Phật giáo, khởi phát từ cộng đồng Phật tử người Nhật Bản. Lantern Floating Hawai'i được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1999. Bởi những nét đặc trưng về văn hóa, lịch sử, địa lý của Hawai'i, nên từ đó đến nay, lễ hội này đã trở thành một lễ hội thường niên của cư dân địa phương. Năm nay là lần thứ 14 lễ hội được tổ chức, được diễn ra vào chiều tối ngày 28-5, tại công viên ở bãi biển Ala Moana. Lễ hội phóng đăng tại Hawai'i thường thu hút sư tham gia của đông đảo quần chúng và du khách.
Lễ hội phóng đăng ở Hawai'i được tổ chức với ý nghĩa là tưởng nhớ, vinh danh và bày tỏ sự tri ân đối với những người thân, những ân nhân đã quá cố và tưởng nhớ đến tất cả những bậc tiền nhân. Đồng thời, đây là dịp để mọi người làm mới tình thương yêu của mình đối với tất cả mọi người và mọi loài chúng sanh trên thế gian này. Đấy cũng là dịp để mọi người trải nghiệm cảm xúc của tinh thần tập thể, cộng đồng, tại đấy các gia đình, bạn bè, và thậm chí là những người xa lạ cùng nhau tạo lập tình thương yêu, hơi ấm tình người, sự hiểu biết và giúp đỡ lẫn nhau. Khi mọi người cùng tham gia vào lễ hội, có nghĩa là mọi người đang hỗ trợ lẫn nhau, đang cùng nhau xây dựng sự hiểu biết về những giá trị và những trải nghiệm nhân văn.
Đến với lễ hội, mọi người đều được mời viết những lời tưởng niệm, những lời cầu nguyện và lời bày tỏ tình cảm của cá nhân lên trên các đèn lồng đã được thiết kế một cách đặc biệt cho lễ hội. Những ý nghĩ, những lời cầu nguyện chân thành mà tất cả mọi người thể hiện lên trên những chiếc đèn lồng trong sự kiện đặc biệt này sẽ góp phần tạo nên một tương lai tươi sáng mà ở đó tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, đẳng cấp, tôn giáo, văn hóa hay lối sống, cùng tồn tại trong hòa hợp. Trong khoảnh khắc ấy, chỉ có duy nhất hơi ấm tình người và sự bình an siêu việt trên tất cả những phân biệt, những ranh giới mà con người thường nghĩ đến, thường vin theo.  
Sau khi đã viết những tâm tư, tình cảm, những lời cầu nguyện lên những chiếc đèn lồng, mọi người cùng nhau thành kính cầu nguyện và thả những chiếc đèn lồng ấy xuống bờ biển hoặc đi trên những chiếc ca-nô để thả trên biển. Mỗi năm, số lượng đèn lồng mội tăng thêm. Năm nay, có hơn 3.000 chiếc đèn lồng đã được chuẩn bị để phục vụ lễ hội. 
Lantern Floating Hawai'i đã được công chúng đón nhận một cách nồng nhiệt và không chỉ giới hạn trong truyền thống hay cộng đồng Phật giáo, mà đã trở thành một lễ hội của công chúng.  
Đây là một lễ hội đã được sự bảo trợ các tổ chức Phật giáo, cho nên tất cả mọi người đều được chào đón và được tham gia lễ hội hoàn toàn miễn phí. Năm nay, ước tính có đến trên 40.000 người đã tham dự đêm lễ hội. Hình ảnh của đêm lễ hội đã được truyền dẫn trực tiếp trên kênh truyền hình địa phương ở Hawai'i, được phát lại vào các ngày sau đó, và đăng tải trên trang web chính thức của lễ hội.
Minh Nguyên (Theo www.lanternfloatinghawaii.com)



Đài Loan: Việc phóng sanh của Phật tử giết chết hàng triệu sinh vật

Một nhóm Phật tử Đài Loan đang phóng sanh

Vào ngày Chủ nhật, 13-5-2012, cộng đồng Phật giáo Đài Loan đã trọng thể tổ chức đại lễ kỷ niệm ngày đản sanh của Đức Phật. Ngày Phật đản thường được tổ chức tại các nước trong khu vực Đông Nam Á vào ngày thứ tám của tháng thứ tư theo lịch của Trung Hoa. Riêng tại Đài Loan thì ngày Phật đản được ấn định là ngày Chủ nhật thứ hai của tháng Năm, trùng với ngày của mẹ (Mother’s Day).
Trong ngày Phật đản, Phật tử Đài Loan thường cùng nhau cầu nguyện rồi làm lễ phóng sanh. Theo các nhà hoạt động bảo vệ động vật, có đến hàng chục triệu động vật, chủ yếu là các loài cá và chim, bị chết mỗi năm tại Đài Loan vì cái gọi là "phóng sanh để tạo phước" của các Phật tử nhằm cải thiện nghiệp báo của họ.
Chính phủ đang lên kế hoạch cấm việc làm này, tại vì nó gây tổn hại đến môi trường và khiến cho hơn 200 triệu sinh vật được phóng sanh mỗi năm bị chết hoặc bị thương do thiếu thực phẩm và môi trường sống.
Hiệp hội Môi trường và động vật của Đài Loan cho hay, có khoảng 750 lễ phóng sanh như vậy được thực hiện ở Đài Loan mỗi năm.
Ông Lin Kuo-chang, một quan chức thuộc Hội đồng Nông nghiệp của chính phủ cho biết, các cuộc đàm phán cho thấy có một số nhóm đồng thuận với sự ngăn chặn việc làm này, nhưng những người khác vẫn chưa đồng thuận với lệnh cấm.
Ông còn cho biết, kiến nghị sửa đổi Luật bảo vệ động vật hoang dã hiện hành sẽ nêu rõ, những người phạm tội phóng sanh trái phép như thế sẽ phải đối mặt với hai năm tù giam hoặc bị phạt đến 2,5 triệu đô-la Đài Loan (85.000 USD).
Nguyên Quý (Theo Straitstimes.com)

Tổ chức và quản lý nhân sự ở Phật Quang Sơn

Vườn tượng tại Phật Quang Sơn - Đài Loan
LTS: Phật Quang Sơn là một tổ chức Phật giáo do Hòa thượng Tinh Vân sáng lập vào năm 1967 ở Đài Loan, có trụ sở chính tại thành phố Cao Hùng. Hiện tại, Phật Quang Sơn có đến 200 chi nhánh tự viện và các trung tâm tu học tại nhiều quốc gia trên khắp tất cả các châu lục. Để quản lý một tổ chức lớn mang tầm quốc tế như thế là điều không đơn giản. Hòa thượng Tinh Vân đã từng chia sẻ kinh nghiệm trong việc tổ chức và quản lý Phật Quang Sơn. Nay Nguyệt san Giác Ngộ giới thiệu đến bạn đọc.
Quản lý và tổ chức nhân sự là vấn đề rất quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một tổ chức, cơ quan. Nhiều người thường hỏi tôi rằng: "Phật Quang Sơn có hàng trăm ngôi chùa và các tổ chức trực thuộc trên khắp thế giới. Làm thế nào để ngài lãnh đạo và quản lý một tổ chức rộng lớn như thế?”. Với vấn đề này, tôi có một câu trả lời nhất quán rằng: “Tất nhiên là có rất nhiều cách để làm công việc đó”. Sau đây là bốn nguyên tắc cơ bản:
1. Không có sự gắn kết cố định giữa các vị thầy và các đệ tử
Không ai trong số các môn đệ của Phật Quang Sơn là vĩnh viễn gắn kết với bất kỳ một vị sư phụ nào cả. Tất cả những môn đệ của Phật Quang Sơn là thuộc về toàn thể Tăng đoàn. Họ chỉ khác biệt nhau về thời gian gia nhập Tăng đoàn, chẳng hạn như có người thuộc thế hệ thứ nhất, có người thuộc thế hệ thứ hai, thế hệ thứ ba… Bởi vì các môn đệ không theo một vị sư phụ nhất định cho nên không có sự ganh đua hoặc cạnh tranh giữa họ.
2. Không có sở hữu tư nhân về tiền bạc hoặc các ngân quỹ
Không một ai trong Phật Quang Sơn được phép sở hữu tài sản hoặc các ngân quỹ tiết kiệm. Tất cả tiền bạc đều thuộc về Tăng đoàn. Mặc dù các thành viên không có tiền, điều đó không có nghĩa là các nguồn quỹ không sẵn sàng hỗ trợ cho họ. Tăng đoàn thường chăm lo vấn đề thực phẩm, quần áo, đi lại, y tế, chi phí du học ở nước ngoài và thăm viếng, kể cả quà tặng cho cha mẹ của họ trong chuyến thăm gia đình lần đầu tiên của họ sau khi họ xuống tóc xuất gia (để chính thức trở thành người tu). Tại Phật Quang Sơn, tất cả tiền bạc thuộc về Tăng đoàn, không thuộc về cá nhân, nhưng mỗi cá nhân đều vui với sự hỗ trợ tiện dụng dưới một một hệ thống hợp tác tuyệt vời.
3. Bắt buộc phải luân chuyển công việc và vị trí
Theo nguyên tắc "nước sạch chỉ đến từ dòng nước chảy, một hòn đá lăn thì không có rêu bám vào", Phật Quang Sơn thực hiện việc luân chuyển công việc và vị trí của các thành viên. Không có ai "sở hữu" bất kỳ ngôi chùa chi nhánh, nơi thờ tự, hoăc doanh nghiệp trực thuộc nào trong hệ thống Phật Quang Sơn cả. Năm nay, một người có thể là trụ trì của mộ ngôi chùa nào đó, nhưng năm tới thì vị đó có thể được phân công đến một ngôi chùa khác. Có rất nhiều lợi ích từ việc luân chuyển công việc. Trong số đó, phải kể đến là những cơ hội học tập và tăng trưởng, tương tác và kết nối, và để có thêm kinh nghiệm trong tu học và phụng sự.
4. Xây dựng hệ thống đánh giá quá trình thể hiện và sự thăng tiến
Mỗi thành viên trong Tăng đoàn Phật Quang Sơn bắt đầu với danh hiệu “Người thanh lọc”, rồi tiến dần lên danh hiệu “Cử nhân”, “Hành giả”, “Giảng sư”. Sự thăng tiến phụ thuộc duy nhất vào nỗ lực của mỗi cá nhân và sự thể hiện trong học thuật, trong sự thực tập giáo pháp, và trong việc phụng sự cho tổ chức. Nhờ vào hệ thống có trật tự này mà Phật Quang Sơn đã có được sự phát triển thuân tiện và thành công trong những năm qua.
Ngoài ra, các thành viên của Hội Phật giáo Phật Quang Sơn còn được đào tạo và phân bổ để đảm trách các vị trí sau khi những định hướng nghề nghiệp của họ được đánh giá và thẩm định. Ví dụ, các thành viên được phân loại thành những nhóm tài năng như sau:
- Trụ trì/Giám đốc: Yêu cầu phải sống hết mình vì Tăng đoàn, phải có sự trung thành, phải phát nguyện và phải có trách nhiệm. Người giữ những vị trí này phải có khả năng đảm trách cả chức vụ của một người giám sát và người cấp dưới theo phương thức có trí tuệ, có đạo đức, tự tin và tề chỉnh. Vị ấy còn phải làm chủ các phương thức tụng niệm, phải biết tổ chức các nghi thức, nghi lễ và phải biết giảng dạy Phật pháp.
- Quan hệ cộng đồng: Người phù hợp với vai trò trò một người quan hệ cộng đồng cần phải khéo làm chủ cảm xúc của bản thân, giữ được sự điềm tĩnh và bình tĩnh với một diện mạo dễ chịu. Họ còn phải quen thuộc với những phong tục và tập quán của xã hội. Họ phải là những người dễ gần gũi, biết cảm thông, năng động và tích cực. Đồng thời họ còn phải hiểu rõ sứ mệnh và tầm nhìn của Tăng đoàn.
- Nhà giáo dục/Nhà văn: Họ là những người đánh giá cao giá trị nhân văn và không xông xáo theo đuổi danh vọng hay tiền tài. Những người này cần có óc phê phán, hiểu nhiệm vụ giáo dục và biết rõ những phong cách của một vị trụ trì cũng như những nhu cầu của các học viên, không dính líu đến các mâu thuẩn trong các cuộc tranh luận về chính trị hoặc về quyền lợi. Bên cạnh đó, họ cần phải có kỹ năng tóm tắt vấn đề nghiên cứu, có kỹ năng nghiên cứu, phân tích, giảng dạy, tư vấn, và nên cố gắng để có những công trình nghiên cứu được đăng trong các tạp chí chuyên môn.
- Người lập kế hoạch: Những người này có sự sâu sắc, sáng tạo, quen thuộc với việc phân tích dữ liệu, có khả năng giữ bí mật thông tin. Người đó còn biết cách kết hợp giữa Phật pháp và kiến thức bên ngoài và thạo trong giao tiếp bằng ngôn ngữ viết cũng như trong việc bổ sung người hỗ trợ.
- Những nhóm tài năng khác như chuyên gia pháp lý, chuyên gia kế toán, chuyên gia hành chính.
Việc chia sẻ tầm nhìn và các giá trị sống luôn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong một tổ chức. Các cuộc họp mặt hiệu quả là rất cần thiết để tạo nên sự hội tụ các ý tưởng và quan điểm. Chính vì lý do này, Phật Quang Sơn luôn tổ chức các cuộc họp một cách rất nghiêm túc. Phật Quang Sơn thường xuyên tổ chức các cuộc họp để tạo nên sự đồng thuận và chia sẻ tầm nhìn.
Quản lý nguồn nhân lực là một khía cạnh đầy thách thức trong khoa học quản lý. Theo truyền thống, vấn đề này rất được Phật giáo chú trọng. Dưới đây là một số nguyên tắc về tính nhân văn của Phật giáo và những ứng dụng của chúng trong việc quản lý nguồn nhân lực:
- Xem xét kế hoạch chiến lược của cơ quan một cách tổng thể.
- Phân chia trách nhiệm với những sự mô tả công việc rõ ràng.
- Ý thức rõ tầm quan trọng của sự phối hợp.
- Lập kế hoạch chi tiết với những chủ đích tốt nhất.
- Tiến hành công việc với tất cả sự nỗ lực và quyết tâm.
- Báo cáo thường xuyên và kịp thời để thông báo đến những người giám sát.
- Nhận lãnh trách nhiệm và chịu trách nhiệm về những công việc của mình.
- Đánh giá hiệu suất và theo dõi.
Ngoài ra, giữa cấp trên và cấp dưới cần phải có sự truyền thông trung thực, tôn trọng lẫn nhau, tham gia tích cực, tự phấn đấu và đánh giá một cách chân thành, thẳng thắn, thường xuyên tham khảo ý kiến ​​và phối hợp với nhau, đấy là những vấn đề rất cần thiết trong một cơ quan, tổ chức.
Tôi cũng tin rằng, là một người quản lý hiện đại thì bản thân họ nên tuân thủ theo những phương thức sau đây:
- Luôn giữ được nụ cười trên khuôn mặt, miệng nói lời ca ngợi, trong tâm luôn có những nghi vấn và sự tức giận thì kìm nén vào trong lòng.
- Tránh phản ứng vội vàng và gay gắt, lựa chọn từ ngữ cẩn thận khi đưa ra những lời phê bình về kết quả thấp kém và khi nói lên những nghi ngờ lien quan đến sự phản bội.
- Hãy đối xử với người khác một các khoan dung, nghiêm khắc trong việc quán xét bản thân, tạo uy tín đối với người khác, nhận lãnh trách nhiệm khi có gì đó sai sót.
- Bỏ qua một bên tất cả những lợi ích hoặc mất mát của cá nhân và tiến về phía trước, không được nản lòng hay cố chấp.
- Nhìn nhận vấn đề một cách tổng thể, tạo sự hòa hợp với mọi người; để cho kênh thông tin liên lạc trôi chảy lên xuống một cách tự do, phấn đấu để đạt được sự đồng thuận.
- Phục vụ tha nhân, cẩn thận khi nói, nhìn về phía trước và lập kế hoạch, hiểu bản thân và những người khác.
- Điều chỉnh và thích ứng, giữ ý tứ với người khác, tận dụng lợi thế của mọi cơ hội.
- Hài hước, lắng nghe với sự chú tâm, xem xét cẩn thận, phải tôn trọng ý kiến ​​của người khác.
Nhà lãnh đạo cũng cần phải biết làm thế nào để phát triển, huấn luyện và nuôi dưỡng một đội ngũ nhân viên có năng lực. Người lãnh đạo còn phải có khả năng tuyển chọn, huấn luyện, và trao quyền cho những nhân viên có tài năng. Một sai lầm phổ biến trong giới lãnh đạo là thường phê bình cấp dưới của mình mà không đưa ra bất kỳ một sự chỉ dẫn nào. Ngoài ra, một nhà lãnh đạo hay nhà điều hành cao cấp cần phải thường xuyên tự đánh giá bản thân và  nhờ cấp dưới góp ý trong việc đưa ra quyết định. Sự hài hòa giữa cấp quản lý và nhân viên là nguồn lực lượng ổn định cho một tổ chức.
Đại sư Tinh Vân - Minh Nguyên lược dịch
(Theo Management: Fo Guang Shan’s Approach, Đại sư Tinh Vân, dựa trên bản anh ngữ của dịch giả Tiến sĩ Otto Chang)
(Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ, số 193, tháng 4/2012) 


Tu viện Paro Taktsang, thánh địa linh thiêng nhất tại Bhutan

Tu viện Paro Taktsang là một trong những nơi linh thiêng nhất ở Bhutan. Gọi một cách đầy đủ là tu viện Taktsang Palphug, còn được biết đến dưới tên tiếng Anh là The Tiger's Nest Monastery (Tu viện Hang Cọp). Tu viện tọa lạc trên một vách núi đá granit cao ngất giữa tầng mây nhìn xuống thung lũng Paro, có độ cao hơn 3.000m so với mực nước biển, khoảng 900m so với thung lũng Paro. Nơi này được tín đồ Phật giáo và người dân Bhutan đặc biệt tôn kính bởi vì nó gắn liền với quá trình tu tập và hành đạo của ngài Padmasambhava (Liên Hoa Sinh).
Lần đầu tiên ngài Liên Hoa Sinh đến Bhutan là vào năm 746. Lúc ấy ngài đang ở Ấn Độ và được vua Sindhu Raja mời đến Bumthang để trị bệnh cho vua, vì nhà vua đang lâm trọng bệnh. Sau khi ngài đến Bhutan, ngài đã chữa khỏi bệnh cho nhà vua và từ đó nhà vua phát tâm quy y theo Phật. Chữa bệnh và quy y cho nhà vua xong thì ngài quay trở lại Ấn Độ và hứa là sẽ trở lại Bhutan để hoằng truyền Chánh pháp, giáo hóa cho người dân Bhutan.
Một năm sau (năm 747), ngài Liên Hoa Sinh được vua Thrisong Deutsen thỉnh đến Tây Tạng để hỗ trợ cho đức vua trong việc xây dựng tu viện Samye. Rồi từ Tây Tạng, ngài quyết định sang thăm Bhutan. Trong chuyến thăm Bhutan lấn thứ hai này, ngài đã đi hoằng hóa khắp đất nước Bhutan và chúc phúc cho nhân dân. Trong khi ngài đang ở Singye Dzong inKurtoe, Bhutan, người ta cho rằng ngài đã bay đến Paro Taktsang dưới hình dạng hóa thân của thần Dorji Drolo cưỡi trên lưng con hổ cái. Thần Dorji Drolo được xem là một trong tám hóa thân của ngài.
Truyện kể rằng, trước khi ngài đến, khắp đất nước Bhutan bị khống chế bởi những linh hồn tàn ác. Khi ngài đến thì ngài đã chế ngự được những linh hồn tàn ác đó và khuyến hóa chúng để chúng không quấy nhiễu nhân dân nữa, chúng lại còn phát nguyện làm những vị thần bảo hộ cho đất nước Bhutan.
Khi ngài Liên Hoa Sinh đến Paro Taktsang, ngài đã hành thiền trong các hang động tại đấy trong vòng ba tháng và ngài còn xác chứng Paro Taktsang là nơi thiêng liêng nhất trong những thánh địa ở Bhutan. Ngài Liên Hoa Sinh được xem là vị tổ khai sinh của Phật giáo Bhutan và cũng là vị thần bảo hộ của nhân dân Bhutan.
Tu viện Paro Taktsang được xây dựng xung quanh động Taktsang Senge Samdup, nơi được cho là ngài Liên Hoa Sinh đã tọa thiền trong vòng ba tháng lúc ngài đến tịnh tu tại Paro Taktsang vào thế kỷ thứ VIII.
Đến thế kỷ thứ 11, nhiều cao tăng người Tây Tạng đã đến núi Taktsang để hành thiền. Từ thế kỷ thứ 12 đến thế kỷ thứ 17, nhiều vị Lama Tây Tạng đã đến Bhutan và rồi sáng lập ra nhiều tu viện tại đấy. Ngôi điện Phật đầu tiên được xây dựng ở khu vực Paro Taktsang là vào thế kỷ thứ 14, do ngài Sonam Gyeltshen tạo dựng. Ngài Sonam Gyeltshen là một vị chân sư Mật tông Tây Tạng, thuộc nhánh Kathogpa. Tuy nhiên, đến nay thì ngôi điện Phật ấy không còn dấu vết nào cả.
Vào năm 1692, trong chuyến viếng thăm thánh tích Paro Taktsang, ngài Druk Desi Tenzin Rabgye đệ tứ đã đặt nền móng xây dựng một tu viện tại Paro Taktsang để tưởng niệm ngài Liên Hoa Sinh. Từ đó trở đi, tu viện Paro Taktsang đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa.
Vào ngày 19-4-1998, một vụ hỏa hoạn đã thiêu rụi ngôi điện chính của quần thể tu viện Paro Taktsang. Nhiều bức tranh, bức tượng giá trị và một số cổ vật khác cũng bị ngọn lửa thiêu đốt. Sau cơn hỏa hoạn, quốc vương Bhutan, vua Jigme Singye Wangchuck, cùng với chính phủ Bhutan đã chỉ đạo công việc trùng tu Tu viện Paro Taktsang. Công việc trùng tu được hoàn thành vào năm 2005.
Hiện tại, quần thể tu viện Paro Taktsang trông rất hùng vĩ, bề thế ở trên vách núi đá. Vách núi hết sức cheo leo, có thể nói là dựng đứng. Quần thể tu viện gồm có bốn ngôi điện chính và những khu nhà ở được thiết kế một cách khéo léo, tùy biến theo địa thế của các vách núi đá, các hang động. Xung quanh khu vực của tu viện Paro Taktsang hiện có tám hang động, trong đó có bốn cái thì dễ dàng vào thăm, bốn cái kia thì khó hơn. Tu viện dựng cheo leo trên vách núi và được ví “như là hình ảnh con tắc kè đang bám vào vách núi”. Các ngôi điện của tu viện được nối với nhau bằng những bậc cấp và những lối đi được lát bằng đá. Bên cạnh đó, trên các lối đi còn có một vài cây cầu bằng gỗ yếu ớt. Xung quanh mỗi ngôi điện còn có những ban công, đấy là nơi lý tưởng cho du khách ngắm nhìn thung lũng Paro tuyệt đẹp ở phía dưới.
Có một vài con đường khác nhau dẫn lên tu viện Paro Taktsang. Xung quanh tu viện là cả một rừng thông bạt ngàn. Một nét rất đặc trưng của các tu viện Mật tông Tây Tạng là có rất nhiều dây cờ phướn màu sắc sặc sỡ, in những lời kinh cầu nguyện, những câu thần chú, được giăng xung quanh tu viện cũng như trên lối đi dẫn lên tu viện. Có những ngày, toàn bộ tu viện Paro Taktsang và ngọn núi Taktsang chìm vào trong những đám mây, tạo nên một không gian u tịch, huyền diệu. Nếu ai đến thăm tu viện vào những dịp ấy thì sẽ có cảm giác như là đang lạc vào một cảnh giới u huyền, thâm hiểm nào đó vậy.
Trên con đường dẫn lên tu viện Paro Taktsang, có ngôi làng Lakhang và ngôi chùa Urgyan Tsemo tọa lạc một khu núi đá khá bằng phẳng. Từ địa điểm này mà nhìn thì những ngôi điện của tu viện Paro Taktsang nằm ở vách núi đối diện. Đấy là một nơi lý tưởng để cho du khách thỏa sức ngắm nhìn tu viện Paro Taktsang và cảnh núi non hùng vĩ, cùng lắng nghe tiếng thác đổ như phá tan sư yên tĩnh của núi rừng. Dọc lối mòn dẫn lên tu viện Paro Taktsang có một thác nước có độ cao 60m và đổ vào một cái hồ thiêng, người ta đã bắc một cây cầu để đi qua hồ này. Đường đi chấm dứt tại ngôi điện chính của tu viện. Tại đấy, mọi người có thể nhìn thấy hang động mà năm xưa ngài Liên Hoa Sinh đã hành thiền trong ba tháng. Động này chỉ mở cửa cho du khách vào chiêm bái mỗi năm một lần duy nhất mà thôi. Đấy là vào dịp lễ hội hàng năm vào tháng thứ năm theo lịch của người Bhutan. Lễ hội này kéo dài trong vòng 21 ngày.
Tại tu viện Paro Taktsang còn có những thứ mà du khách đáng lưu tâm, cần chiêm ngưỡng, đó là những bức tranh vẽ, những bức tranh Thangka được treo xung quanh tường của các ngôi điện, và những bức bích họa trên các vách động, vách núi. Những bức tranh, những bức bích họa ấy miêu tả chân dung ngài Liên Hoa Sinh, sự tu hành và hoằng hóa của ngài, có cả những vị Phật, Bồ-tát, những vị thần trong Phật giáo và trong văn hóa dân gian Bhutan.
Người ta tin rằng, nếu chúng ta hành thiền tại tu viện Paro Taktsang trong vòng một phút thì thành quả đạt được có thể bằng so với khi chúng ta hành thiền mấy tháng liền ở những nơi khác. Paro Taktsang là một thánh địa vô cùng thiêng liêng trong tâm thức của người dân Bhutan trong suốt chiều dài lịch sử mười mấy thế kỷ qua và có lẽ là mãi mãi về sau.
Ngày nay, khi chính sách ngoại giao và du lịch của Bhutan đang dần mở cửa, ngày càng có nhiều du khách đến thăm tu viện Paro Taktsang và chiêm bái hang động tu hành của ngài Liên Hoa Sinh. Tu viện Paro Taktsang trở thành một điểm du lịch tâm linh không thể bỏ qua đối với khách hành hương khi họ đến Bhutan. 
Quảng Trí 
(Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ số 194, ra tháng 5-2012)

Chùa Kyaiktiyo, kỳ quan huyền bí của Phật giáo Myanmar

Chùa Kyaiktiyo (còn gọi là chùa Đá Vàng) là một trong 3 điểm hành hương nổi tiếng nhất ở Myanmar (hai điểm kia là chùa Shwedagon và chùa Mahamuni). Chùa Kyaiktiyo chỉ là một ngôi chùa nhỏ, cao 7,3m, tọa lạc trên đỉnh của một tảng đá lớn được phủ bởi các miếng vàng lá do khách hành hương dán lên khi mỗi đến viếng thăm chùa. Cả ngôi chùa và tảng đá đều nằm cheo leo trên đỉnh của ngọn núi Kyaiktiyo. Núi Kyaiktiyo có độ cao là 1.100m so với mực nước biển, nằm gần thị trấn Kyaiktiyo, quận Thaton, tỉnh Mon, Myanmar.
Theo truyền thuyết, trong một lần đến thăm Myanmar, Đức Phật đã tặng một sợi tóc của  mình cho vị ẩn sĩ tên là Taik Tha. Vị ẩn sĩ này đã giữ gìn sợi tóc của Phật rất cẩn thận. Trước khi qua đời, ông trao sợi tóc lại cho người con nuôi là vua Tissa, vị vua cai trị Myanmar vào thế kỷ thứ XI, với lời trăn trối: Hãy cất giữ xá lợi ấy trong một hòn đá có hình dáng như đầu của vị ẩn sĩ. Vâng lời cha và nhờ sự giúp đỡ của các thần linh, vua Tissa đã tìm thấy tảng đá vàng nằm trên đỉnh núi Kyaiktiyo, và vua đã xây một ngôi chùa trên đỉnh của tảng đá để tôn thờ xá lợi Phật. Người ta tin rằng, chính nhờ có sợi tóc của Đức Phật mà tảng đá này vẫn nằm yên bất động trong một vị thế hết sức cheo leo qua hàng mấy thiên niên kỷ. Tảng đá cheo leo ấy như thách thức trước lực hút của trái đất và trước quy luật thăng bằng của tự nhiên, như thể là có một năng lực siêu nhiên nào đó đang chống đỡ, đang giữ thăng bằng cho tảng đá. Chính vì điều này mà người ta đã gọi tảng đá này là “Tảng Đá Thiêng” và tất cả mọi khách hành hương mỗi khi đến thăm chùa Kyaiktiyo đều phủ phục kính lễ trước tảng đá thiêng liêng này.
Khoảng thời gian kỳ ảo nhất trên đỉnh núi là lúc ánh tà dương sắp tắt và lúc ánh bình minh vừa ló dạng. Những lúc ấy, ánh mặt trời rực rỡ chiếu vào tảng đá, tạo nên một không gian tâm linh vô cùng huyền ảo và thiêng liêng. Những lúc ấy cũng là lúc mà rất nhiều người đến cầu nguyên và kính lễ xung quanh tảng đá thiêng. Từ chân núi Kyaiktiyo có những con đường khác nhau dẫn lên chùa Kyaiktiyo. Lên gần đến đỉnh núi thì có hình hai con sư tử lớn án ngự hai bên lối đi vào chùa. Từ vị trí này, tất cả các du khách, tín đồ Phật tử đều phải cởi giáy dép và leo bộ lên núi bẳng đôi chân trần. Theo truyền thống của Phật giáo Myanamr, chỉ có người nam mới được phép đến gần khu vực tảng đá vàng để có thể chạm vào tảng đá hoặc dát những lá vàng miếng lên tảng đá, hoặc áp đầu vào tảng đá và cầu nguyện. Còn người nữ thì không được đi vào khu vực tảng đá vàng, nên họ chỉ có thể lặng lẽ dâng vật cúng lên các bàn thờ rồi đứng từ xa để chiêm ngưỡng, kính lễ và cầu nguyện.
Ngày nay, chùa Kyaiktiyo không chỉ điểm hành hương nổi tiếng của tín đồ Phật giáo ở tỉnh Mon, Myanmar, mà còn là điểm đến quan trọng trong lộ trình hành hương của du khách trong nước cũng như quốc tế. Chùa Kyaiktiyo ngày càng trở nên hấp dẫn đối với khách hành hương, du lịch. Và tảng đá thiêng càng trở nên kỳ bí hơn đối với khách thập phương.

Quảng Trí
(Nguồn: Tuần báo Giác Ngộ số 637, ra ngày 14-4-2012)


Sri Lanka: Tăng đoàn đã bảo vệ đất nước trong hơn 2.500 năm qua

Vừa qua, Hội thảo Phật giáo Quốc tế đã được tổ chức tại Đại học Phật giáo Buddhasravaka Bhiksu, Sri Lanka. Phát biểu tại hội thảo, Thủ tướng Sri Lank, ông DM Jayaratne đã nhấn mạnh: “Tăng đoàn đã và đang bảo vệ đất nước, dân tộc và tôn giáo trong hơn 2.500 năm qua. Ngày nay, trong tình hình có một thế lực thù địch đang cố gắng mời gọi các thế lực từ nước ngoài vào nhằm thực hiện những mục đích hạn hẹp và bán nước của họ. Tôi, với tư cách là Thủ tướng của Chính phủ, thay mặt cho Tổng thống Mahinda Rajapaksa, kêu gọi chư Tăng nâng cao cảnh giác và thận trọng với các thế lực thù địch ấy".
Ba ngày của Hội thảo Phật giáo Quốc tế (International Buddhist Conference – IBC) đã được tổ chức tại hội trường khách sạn Dulyana Anuradhapura.
Thủ tướng Jayaratne phát biểu tại hội thảo
IBC được tổ chức và tài trợ bởi Đại học Buddhasravaka Bhiksu, dưới sự chỉ đạo của ngài Thumbulle Seelakkhandha Nayaka Thera, Phó hiệu trưởng của Đại học Buddhasravaka Bhiksu, cùng với sự hỗ trợ đắc lực của Bộ Giáo dục Sri Lanka.
Một trăm năm mươi đại biểu Phật giáo nước ngoài, bao gồm cả những nhà trí thức thuộc hai giới tu sĩ và cư sĩ, đại diện cho các trường đại học và các hiệp hội Phật giáo thuộc 15 quốc gia đã tham dự hội nghị. Bên cạnh đó còn có các vị khách mời thuộc phía chính quyền nhà nước và chư Tăng lãnh đạo Tăng già Sri Lanka, cùng đông đảo quan khách trong và ngoài nước đã có mặt tại buổi lễ khai mạc.
Thủ tướng Jayaratne còn cho biết, Tăng đoàn ở Sri Lanka cũng như ở các quốc gia Phật giáo khác đã đóng một vai trò lịch sử quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy Phật giáo tại đất nước mình. Các cư sĩ Phật tử thì nương vào sự dẫn dắt của các vị tu sĩ để giữ gìn sự thuần khiết nguyên sơ của giáo lý Phật giáo. Thông điệp của Đức Phật rất tương hợp với thế giới hiện tại, tuy nhiên chúng ta đang phải đối mặt với nhiều trở ngại quyết định đến sự sống còn của Phật pháp ở các quốc gia Phật giáo.
Thủ tướng Jayaratne nhấn mạnh: Sự nghèo đói ở các nước châu Á đã tạo nhiều cơ hội tốt cho các tôn giáo khác trong việc lôi kéo các cư sĩ Phật tử nghèo của các nước đi theo tôn giáo của họ bằng cách cung cấp các lợi ích vật chất. Điều này đã trở thành một vấn đề đáng báo động, gây thiệt hại cho Phật giáo ở các nước này.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông SB Dissanayake, phát biểu rằng: Ông tin chắc rằng, đây là thời điểm thích hợp cho việc cải cách hệ thống giáo dục Tăng sĩ để cho phù hợp với thế giới hiện đại.
Ông còn gợi ý, chúng ta nên nỗ lực tìm hiểu và học hỏi từ sự đa dạng và giàu truyền thống Phật giáo ở các quốc gia khác, chúng ta cần phải nỗ lực để hợp tác với nhau để cùng nhau hướng đến việc truyền bá giáo lý của đạo Phật.
Phó hiệu trưởng Đại học Buddhasravaka Bhiksu, Hòa thượng giáo sư Tumbulle Sri Seelakkhandha Nayake Thera, cũng đã phát biểu trong hội nghị rằng: Đây là một thời điểm vô cùng đặc biệt trong dịp kỷ niệm 2.600 năm ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo để chúng ta nhìn lại quá trình tiến bộ của Phật giáo từ trước cho đến nay. Sẽ vô cùng lợi ích cho loài người khi chúng ta chẩn đoán một cách đúng đắn những thách thức trên nhiều phương diện mà Phật giáo đã phải đối mặt với cả hai khía cạnh nội tại và ngoại tại trong hơn 2,5 thiên niên kỷ.
Giáo sư Ananda Wehihena Palliya Guruge, giáo sư nghiên cứu Phật giáo và trợ lý đặc biệt cho Hiệu trưởng Đại học Tây Lai, Los Angeles, Hoa Kỳ cho biết trong bài phát biểu của mình rằng, từ trước đến nay cộng đồng Phật giáo quốc tế vẫn chưa nhận ra được sự cần thiết đối với một cơ quan định hướng hành động nhằm khởi xướng và thực hiện sự nỗ lực tổng hợp để thúc đẩy sự phát triển của Phật giáo. Những trường học truyền thống của Phật giáo và các tông phái Phật giáo đã phát triển một cách dân chủ và có tính phân cấp độc lập cao trong suốt chiều dài lịch sử.
Minh Nguyên (Theo Dailynews.lk)
(Nguồn: Tuần báo Giác Ngộ, số 631, ra ngày 3-3-2012)

Chùa Pho, ngôi chùa hoàng gia đầu tiên của Thái Lan

Một góc chùa Pho - Ảnh: Q.Trí
Chùa Pho (Wat Pho - từ “wat” trong tiếng Thái nghĩa là “chùa”), hay gọi một cách chính thống và đầy đủ là Wat Phra Chetuphon Vimolmangklararm Rajwaramahaviharn, có thể gọi tắt là Wat Phra Chetuphon, là một ngôi chùa cổ rất nổi tiếng ở thủ đô Bangkok, Thái Lan. Chùa tọa lạc trên một khu đất có diện tích rộng đến 8 hecta (20 mẫu Anh), nằm về phía Nam của cung điện hoàng gia.
Wat Pho là ngôi chùa hoàng gia đầu tiên của Thái Lan, được xem như là ngôi chùa quan trọng nhất dưới thời vua Rama đệ I của triều đại Chakri. Sở dĩ chùa Pho có được vị thế quan trọng như thế là vì vào năm 1788, vua Rama đệ I đã cho tiến hành khôi phục lại một ngôi chùa cổ thuộc thời đại Ayudhya có tên là Wat Phodharam, và xác lập nó thành một ngôi chùa hoàng gia nằm gần với cung điện hoàng gia. Đến năm 1801, trong một buổi lễ diễn ra ở chùa, vua Rama đệ I đã đổi tên Wat Phodharam thành Wat Phra Chetuphon Vimolmangklavas, và tên này lại được đổi thành Wat Phra Chetuphon Vimolmangklararm dưới triều đại của vua Rama đệ IV.
Tượng Phật trong chánh điện ở chùa Pho - Ảnh: Q.Trí
Tượng Phật nhập Niết-bàn vĩ đại ở chùa Pho - Ảnh: Q.Trí
Những họa tiết trên đôi bàn chân của tượng Phật nhập Niết-bàn - Ảnh: Q.Trí
Một góc chùa Pho - Ảnh: Q.Trí
Tháp chuông trong vườn tháp ở chùa Pho - Ảnh: Q.Trí
Vốn là một ngôi chùa của hoàng gia nên Wat Pho có rất nhiều pho tượng Phật thiêng liêng và quý giá, cùng với nhiều công trình kiến trúc độc đáo. Trong đó, độc đáo và nổi tiếng nhất là pho tượng Phật nằm trong tư thế nhập niết bàn rất vĩ đại. Pho tượng đại Phật này có chiều dài đến 46 m, chiều cao 15 m, được đúc bằng thạch cao, phủ lên phần gạch bên trong, bên ngoài được phủ kín bằng vàng lá, và nằm trên một chiếc bệ cũng được dát vàng sáng chói, chung quanh được chạm khắc, trang trí rất công phu, sắc sảo. Phần mắt và chân của tượng Phật được làm bằng gỗ khảm xà cừ. Hai lòng bàn chân của Phật có chiều cao 3 mét và dài 5 mét, trên ấy có những hình tượng hoa văn được khảm ngọc mô tả 108 tướng tốt của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hai tròng con mắt của Đức Phật cũng được khảm ngọc trông rất có thần. Các bức tường xung quanh và cả bên trên trần của ngôi điện Phật cũng được trang trí tỉ mỉ, màu sắc hòa hợp với pho tượng Phật, tạo nên một không khí ấm cúng và trang nghiêm. Ánh sáng bên trong điện được điều tiết vừa phải, không quá sáng, tạo nên cảnh khung cảnh huyền ảo.
Công trình kiến trúc phải kể đến tiếp theo là ngôi chánh điện của chùa. Đây là nơi công phu tu tập hằng ngày của chư Tăng và là nơi cử hành các nghi lễ Phật giáo. Chánh điện của chùa là một tác phẩm mỹ thuật rất đặc sắc về nghệ thuật khảm ngọc. Các cửa phía Đông và Tây của chánh điện đều được khảm ngọc, và dọc theo tường của điện Phật đều có hàng loạt những hình chạm khắc phong cảnh trên đá sa thạch rất công phu, tỉ mỉ. Bên trong chánh điện tôn thờ pho tượng Phật lớn trong tư thế tọa thiền nhập định, được tôn trí trên một bệ thờ ba tầng hết sức tôn nghiêm. Bệ thờ được điêu khắc những hoa văn rất tinh xảo. Có một ít tro cốt của vua Rama đệ I được đặt ở dưới bệ của pho tượng Phật này.
Trong khuôn viên của chùa có rất nhiều ngôi tháp, với nhiều kích thước lớn nhỏ khác nhau. Có thể nói đây là một vườn tháp có kiến trúc nghệ thuật vô cùng độc đáo, với những ngọn tháp nhọn cao vút, những cấu trúc, hình dáng và những đường nét hoa văn của các ngôi tháp sắc sảo, tinh tế và đẹp lạ thường. Trong vườn tháp này có một ngôi tháp vô cùng khác biệt so với các ngôi tháp khác, đó là một ngôi tháp chuông, nằm giữa một khoảng sân rộng thênh thang, trên một nền cao khoảng 5 mét được sơn màu trắng thanh khiết, có 12 bậc cấp đi lên. Các trụ và tường bao quanh quả chuông được khảm sành sứ với màu sắc thật hài hòa. Nếu bạn đến thăm Wat Pho vào một buổi sáng trời trong xanh, dịu mát và dạo trong vườn tháp của chùa, ngắm nhìn những mái ngói đỏ tươi, những đường nét hoa văn tinh xảo, những mô hình kiến trúc đọc đáo và những ngọn tháp cao chót vót giữa nền trời xanh trong, thì dù cho bạn là một người khó tính đến đâu, bạn cũng phải thán phục trước tài hoa của những con người đã tạo nên các công trình kiến trúc vô cùng độc đáo này.
Bên cạnh đó, trong khuôn của chùa còn có một khu bảo tàng lớn, là nơi gìn giữ và trưng bày triển lãm những tượng Phật, kinh thư, thư tịch, bích họa, pháp cụ, pháp khí có niên đại cổ xưa, trong đó đáng kể nhất là hơn 350 bức tượng Phật mạ vàng trong tư thế tạo thiền được bố trí theo từng hàng, từng lớp trông thật uy nghi và tuyệt đẹp.
Một điều khá thú vị là trước khi thành lập ngôi chùa này thì khu đất ấy vốn là khuôn viên của một trung tâm giáo dục đào tạo y khoa cổ truyền Thái Lan. Chính vì lý do này mà dưới thời của vua Rama đệ III, các tấm bản khắc ghi những bài học về y khoa được đặt xung quanh chùa. Hiện tại, trên những bức tường chạy dọc theo con đường dẫn đến ngôi điện thờ tượng Phật nhập niết bàn có treo rải rác những thẻ bài ghi tên các vị thuốc chữa các chứng bệnh khác nhau. Điều này xác chứng rằng, y học dân tộc chẳng có gì là bí truyền cả, đó là những bài thuốc hay mà tất cả mọi người đều có thể biết và áp dụng. Wat Chetuphon từng được các vị vua đầu tiên của triều đại Chakri xem là cội nguồn của nền giáo dục phổ thông của vương quốc, nên ngôi chùa này được gọi là "Trường Đại học đầu tiên của Thái Lan".
Với những công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, với những di sản văn hóa, lịch sử có giá trị và đặc biệt là pho tượng Phật trong tư thế nhập Niết-bàn mạ vàng vĩ đại, Wat Pho ngày càng thu hút đông đảo khách hành hương trong và ngoài nước đến tham quan, và trở thành một điểm đến du lịch tâm linh lý tưởng. Khi đặt chân đến xứ sở chùa vàng Thái Lan, nếu muốn được vào viếng thăm các ngôi chùa hay là cung điện Hoàng gia Thái Lan, có một điều mà tất cả mọi du khách đều phải tuân thủ nghiêm ngặt, đó là tất cả mọi người, dù nam hay nữ, đều phải mặc trang phục chỉnh tề, trang nghiêm và kín đáo. Đấy là một điều được ghi rõ trong bảng nội quy dành cho khách hành hương, du lịch tại các chùa và cung điện hoàng gia, nếu ai không tuân thủ thì sẽ không được vào.
Minh Nguyên (Theo Watpho.com)
(Nguồn: Tuần báo Giác Ngộ, số 630, ra ngày 25-2-2012)

Chùa Đông Đại, nơi đánh dấu sự kết hợp giữa giáo quyền và thế quyền ở Nhật Bản

Đại Phật điện ở chùa Đông Đại
Chùa Đông Đại, tiếng nhật là Todai-ji (Đông Đại Tự - 東大寺), là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Nhật Bản, và là một thắng cảnh, điểm du lịch tâm linh rất quan trọng ở Nara. Chùa được khởi công xây dựng từ năm 743 và hoàn thành vào năm 751. Giai đoạn này là giai đoạn Phật giáo phát triển mạnh, đạt đến đỉnh cao và giữ vai trò là quốc giáo ở Nhật Bản.
Trong thời kỳ Tempyo, nhân dân đã phải trải qua rất nhiều thiên tai và dịch bệnh. Sau khi hứng chịu hai cơn sống thần, vào năm 741, vua Shomu đã ban hành chiếu chỉ khuyến khích xây dựng những ngôi chùa chính ở các tỉnh, thành trong cả nước (gọi là chùa tỉnh). Chùa Đông Đại được đề cử là ngôi chùa tỉnh của tỉnh Yamato và là trụ sở chính, dẫn đầu tất cả các ngôi chùa tỉnh ở trong nước.  
Vào năm 743, vua Shomu ban hành một sắc lệnh kêu gọi người dân đóng góp để xây dựng một pho tượng Phật, với niềm tin sâu sắc rằng Đức Phật có thể che chở cho mọi người. Ngôi chùa xem như là một phương tiện trấn quốc, đánh dấu sự kết hợp có ý nghĩa lần đầu tiên của giáo quyền và thế quyền ở Nhật Bản. Theo sử liệu ghi chép được lưu giữ tại chùa Đông Đại thì ngài Gyoki và các đệ tử của ngài đã đi đến nhiều tỉnh thành để quyên góp tịnh tài, tịnh vật cho việc tạo một pho tượng Phật vĩ đại. Tổng cộng có hơn 2.600.000 người đã đóng góp trong việc kiến tạo nên pho tượng Phật bằng đồng vĩ đại và ngôi điện Phật tại chùa Đông Đại. Pho tượng Phật bằng đồng ấy cao 16 mét. Pho tượng hoàn tất vào năm 751. Tính tổng chiều dài từ dưới lên, kể cả phần bệ của pho tượng thì có độ cao là 30 mét. Trong ngày lễ khai quang điểm nhãn vào năm 752, có hơn 10.000 người dân đã tham dự lễ lạc thành và khai quang điểm nhãn của pho tượng. Do động đất thường xuyên xảy ra ở Nhật Bản, cho nên pho tượng ấy cũng đã nhiều lần bị hư hỏng nặng và đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Pho tượng trong hiện tại đã được sửa chữa gần đây nhất là vào thời Edo (1615-1867).
Chùa Đông Đại tồn tại gần 1.500 năm, đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa cho nên không còn giữ được sự nguy nga, đồ sộ của ngôi chùa như ở thời kỳ đầu. Trong quần thể kiến trúc lúc ban đầu của chùa Đông Đại có hai tòa nhà cao 100 mét. Vào thời điểm ấy, sau những tòa tháp ở Ai Cập thì đây là hai tòa nhà cao nhất thế giới. Hiện nay thì hai tòa nhà này không còn nữa. Tòa nhà trong hiện tại được trùng tu hoàn thành vào năm 1709 và nhỏ hơn 30% so với tòa nhà trước đó.
Cổng tam quan của chùa Đông Đại (Nandaimon - Nam Đại Môn) được xây dựng từ năm 1199 cũng là một trong những công trình kiến trúc vĩ đại của chùa. Cổng tam quan hiện tại được tái thiết theo đúng hình dáng cũ. Cổng có 18 cột trụ chống đỡ, mỗi cái cao 20 mét, với đường kính hơn 1 mét.
Một góc chùa Đông Đại
Pho tượng Phật bằng đồng vĩ đại ở chùa Đông Đại
Hai pho tượng Hộ Pháp bằng gỗ đứng hai bên của cổng tam quan của chùa cao gần 8 mét, có tuổi thọ trên 800 năm. Pho tượng được điêu khắc bởi người thợ chạm gỗ bậc thầy là ông Unkei. Tượng được ghép thành từ 3.115 miếng gỗ.
Trong khuôn viên của chùa, trải dài hơn 1 km theo trục Bắc-Nam và Đông-Tây, tính từ Đại Phật điện, là hàng loạt các công trình kiến trúc khác nhau, gồm có các ngôi điện và kho báu, nơi lưu giữ các bảo vật quốc gia. Trong đó có bảy công trình được công nhận là Di sản Quốc gia. Là một trong những ngôi chùa cổ lớn nhất ở Nhật Bản, chùa Đông Đại sở hữu rất nhiều bảo vật rất có giá trị về văn hóa, lịch sử. Chùa hiện có 20 pho tượng Phật và tác phẩm nghệ thuật được xếp loại Di sản Quốc gia.
Hiện tại, quần thể kiến trúc chùa Đông Đại gồm có Đại Phật điện, hai tòa tháp 7 tầng, một giảng đường và khu tịnh xá. Bên cạnh đó còn có nhiều công trình lịch sử khác, kể cả tòa điện Shoro (Kho báu Hoàng gia), nơi lưu trữ kho bảo vật của Thiên hoàng Shomu.
Liên Hoa điện hiện hữu trong quần thể kiến trúc chùa Đông Đại hiện tại là một công trình có tuổi thọ lâu đời nhất trong quần thể.
Đặc biệt, chùa hiện lưu giữ được những bức chạm trổ rất tinh xảo, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc gỗ Nhật Bản, những bức tượng cổ bằng đồng cùng hàng trăm di vật, cổ vật quý hiếm. Bên cạnh đó, nghệ thuật vườn cảnh độc đáo và hài hòa với kiến trúc đã tạo cho chùa Đông Đại thành một quần thể di tích lịch sử, tâm linh vô cùng ngoạn mục và tú lệ, có sức thu hút hiếm có, khiến nơi đây trở thành địa danh linh thiêng và hấp dẫn đối với du khách trong nước cũng như quốc tế.
Minh Nguyên
(Nguồn: Tuần báo Giác Ngộ, số 629, ra ngày 18-2-2012)

Núi Mihintale, chiếc nôi của Phật giáo Sri Lanka

Hang động được tạc phía dưới một phiến đá
Vào thập kỷ thứ năm của thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, vua A Dục đã tổ chức Đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba tại kinh đô Pataliputra. Tại đại hội kết tập lần này, những tranh chấp về một số vấn đề trong giáo pháp đã được giải quyết, các vị Tăng sĩ không thanh tịnh đã bị trục xuất khỏi Tăng đoàn và đặc biệt là đưa ra quyết định thành lập những đoàn Tăng sĩ đi truyền bá đạo Phật tại những quốc gia, những vùng lãnh thổ khác nhau. Tôn giả Mahinda, con trai của vua A Dục, đã được chọn làm trưởng đoàn của một đoàn truyền giáo đi đến các khu vực phía Nam. Vị Tăng sĩ hoàng gia này và những người bạn đồng hành đã rời Pataliputra và đi đến Videsha, nơi họ lưu lại trong một thời gian ngắn, có thể là họ đã ở lại tại tu viện lớn ở Sanchi. Theo sử liệu cho biết, phái đoàn có lẽ đã truyền bá Phật giáo một cách tích cực tại Videsha trong một thời gian trước khi đến Sri Lanka. Dù thế nào đi nữa thì phái đoàn chắc chắn đã đến Gokanna (Trincomalee cổ) và cuối cùng dừng lại ở núi Mihintale, cách Anuradhapura 13km về phía Đông.
Tượng Phật trên núi Mihintale
Một góc của ngôi tháp Khantika
Di tích hai phiến đá ở ngay lối vào cửa chánh điện trên núi Mihintale
Vua Devanampiya Tissa cùng với một số cận thần của ông đang đi săn trên núi thì bất ngờ bắt gặp những người lạ mặc áo choàng màu vàng. Nhà vua hơi sửng sốt trước các nhà sư, nhưng tôn giả Mahinda đã trấn an vua: "Tâu đức vua, chúng tôi là tu sĩ, đệ tử của đấng Giác Ngộ. Chúng tôi đến từ Ấn Độ, đến đây với lòng thương yêu đối với đức vua và dân chúng của ngài”. Tâu đức vua với những lời trấn an như thế, rồi tôn giả Mahinda hỏi đức vua một số câu hỏi để dò xét khả năng am tường của vua. Sau đó tôn giả Mahinda giảng dạy cho đức vua và đoàn tùy tùng về những giáo pháp căn bản của đạo Phật. Sau khi lãnh thọ giáo pháp, vua Tissa đã cung thỉnh chư Tăng đến kinh đô Anuradhapura vào ngày hôm sau để giảng dạy giáo pháp cho gia đình hoàng gia. Thể theo lời mời của vua Tissa, ngày hôm sau tôn giả Mahinda cùng chư Tăng đã tiến vào cung điện của vua và truyền dạy giáo pháp cho gia đình hoàng gia.
Tên ban đầu của núi Mihintale là Missaka Pabbata, sau đó thì được gọi là Cetiyagiri (miền núi của những ngôi tháp), và tên hiện tại của nó tất nhiên là có nguồn gốc từ tôn giả Mahinda. Lúc ngài Pháp Hiển đến thăm Mihintale, có 2.000 tu sĩ sống trên núi. Ngài Mahinda đã dành những năm còn lại của cuộc đời mình ở trên núi Mihintale và viên tịch ở đấy vào năm 202 trước Công nguyên. Sau khi tổ chức tang lễ trọng đại, tro cốt của ngài đã được phụng thờ trong các bảo tháp trên khắp đất nước Sri Lanka, và lẽ đương nhiên là có một phần tro cốt được phụng thờ trong một bảo tháp trên núi Mihintale. Nhà vua Devanampiya Tissa đã cho tạo lập 68 hang động trên núi Mihintale để cho chư Tăng tu tập. Điều này được xác nhận trong một bài minh được khắc trên vách của một trong những hang động gần tháp Kantaka.
Trên núi Mihintale hiện còn lại dấu tích của một bệnh viện cổ. Tàn tích ấy hiện được bao quanh bởi những cây xoài xinh tươi. Kiến trúc của di tích cho thấy, cổng vào bệnh viện nằm ở phía Nam, tại đấy có một cái cổng dẫn đến khoảng sân bên ngoài. Bên phải là di tích của những bồn tắm nước nóng hoặc là tắm xông hơi. Theo sử liệu cho biết, bệnh viện này có phòng cho 27 bệnh nhân và bốn phòng lớn hơn được sử dụng vào các mục đích khác được xây dựng xung quanh một cái sân nhỏ, và có một ngôi điện Phật nhỏ ở chính giữa sân. Trong phòng lớn ở phía Đông Bắc là một bồn trị liệu bằng dược thạch. Các bệnh viện như thế này không phải là để phục vụ công chúng mà là để chăm sóc và điều dưỡng cho chư Tăng và những người làm việc trong các tu viện ở đấy.
Trên núi Mihintale có một đường bậc cấp bằng đá dẫn lên núi rất vĩ đại. Đường bậc cấp này dài hơn 300 mét và có đến 1840 bậc cấp. Đây là một trong những đường bậc cấp lớn nhất và ấn tượng nhất mà chúng ta rất hiếm thấy ở những nơi khác. Nhìn những bậc cấp ấy, chúng ta có thể hình dụng được sư gian lao và sức mạnh, cùng trí tuệ của con người đã dày công tạo dựng nên nó. Phía bên trái của đường bậc cấp ấy có nhiều cột trụ của các tu viện bị đổ nát còn lưu lại.  
Đi theo con đường bậc cấp rồi quẹo trái là di tích của khu nhà trù của chư Tăng. Dọc theo bức tường phía Bắc và phía Đông của phòng ăn có hai cái máng cơm bằng đá rất lớn, có chiều dài gần 7 mét. Kích thước của các máng cho thấy rằng chúng đã cung cấp cơm cho một số lượng rất lớn các nhà sư, và chắc hẳn là hai cái máng này có kích thước lớn nên đã không thể đặt trong nhà trù có kích thức khá khiêm tốn tại đấy. Có lẽ là chư Tăng đến nhận thức ăn ở đấy rồi đến một nơi khác để ăn. Trong một ghi chú lịch sử cho biết rằng, có 12 đầu bếp làm việc tại nhà trù này. Bên cạnh đó còn có một người giám sát và một vài người phục dịch có nhiệm vụ cung cấp củi cho nhà bếp.
Từ nhà tru đi theo một đường bậc cấp dẫn trực tiếp đến ngôi chánh điện chính của núi Mihintale. Ở hai bên cửa đi vào chánh điện có hai phiến đá lớn, trên đấy khắc một bài minh dài. Bề mặt của các phiến đá được đánh bóng và những dòng chữ trên đấy được khắc rất đẹp. Bài minh được khắc trên hai phiến đá ấy là do vua Mahinda đệ tứ viết. Đấy là một trong những bài viết dài nhất và hấp dẫn nhất trong thời cổ đại của Sri Lanka hiện còn lưu lại. Bài minh cho chúng ta biết nhiều về đời sống và sinh hoạt của cộng đồng Tăng lữ tại núi Mihintale.
Hồ nước Naga
Bậc cấp dẫn lên đỉnh núi Mihintale
Di tích cái máng chứa cơm dài 7 mét trên núi Mihintale
Dưới chân núi có một bể chứa nước với hình sư tử bằng đá cố định trong tư thế vồ lấy bể chứa nước ở phía trên nó. Hình con sư tử và một phần của bể chứa nước được tạc từ nguyên một phiến đá lớn. Vì phiến đá đã bị cắt một mặt nên không đủ để tạo nên bể chứa nguyên vẹn, do vậy mà một phiến đá khác được ghép vào để tạo nên bể chứa. Phiến đá thứ hai ấy được ghép một cách rất hoàn hảo, cho nên nước không bị rò rỉ ra ngoài. Xung quanh miệng của bể chứa có trang trí, chạm trổ hình ảnh các vũ công, đô vật, voi, các ngôi sao và các nhạc công. Nước được dẫn từ hồ Naga ở trên núi vào bể chứa và từ đó phun ra theo miệng của con sư tử. Nước này không dùng vào việc ăn uống, chỉ dùng vào việc tắm, giặt.
Hồ Naga vốn là một hồ nước tự nhiên nho nhỏ nằm ở trên núi Mihintale. Do nhu cầu về nguồn nước để sử dụng cho sinh hoạt của chư Tăng ở trên núi Mihintale cho nên người ta đã mở rộng và tôn tạo hồ nước tự nhiên ấy bằng cách đắp bờ xung quanh và đào sâu hơn. Ở mặt giáp với vách núi của hồ có tạc hình dạng bảy cái đầu của thần rắn Naga nhô ra khỏi vách núi đá, chính vì vậy mà hồ nước này được gọi là hồ Naga.
Ở trên khuôn viên của núi Mihintale hiện còn có một hang động và người ta cho rằng hang động ấy là nơi mà tôn giả Mahinda đã ở lại đấy trong lần đầu tiên ngài đến Mihintale. Trên nền của cái động ấy có tạc một khối đá hình chữ nhật với ý nghĩa biểu trưng cho cái y được gấp lại và tôn giả Mahinda đã từng nằm trên đó.
Một công trình khác cũng có giá trị lịch sử, văn hóa vô cùng quan trọng tại núi Mihintale, đó là tháp Khantika. Tháp Khantika cho du khách biết đến một trong những công trình điêu khắc cổ xưa nhất của đất nước Sri Lanka. Người ta không biết chính xác ai là người đã tạo dựng ngôi tháp này và tạo dựng vào lúc nào. Tài liệu đề cập đến ngôi tháp này lần đầu tiên là vào thời Lanjatissa (109-119).
Và như đã nói ở trên, để chuẩn bị cho việc lưu trú của ngài Mahinda và chư Tăng, vua Devanampiya đã cho tạo dựng nhiều hang động ở trên núi Mihintale. Hiện tại thì có nhiều hang động vẫn còn tồn tại và được bảo tồn khá tốt.
Hiện nay, núi Mihintale là một trong những di tích lịch sử quan trọng của Sri Lanka và là điểm hành hương du lịch thu hút đông đảo khách hành hương trong nước cũng như quốc tế.
Minh Nguyên
(Nguồn: Tuần báo Giác ngộ số 628, ra ngày 11-2-2012)
Tài liệu tham khảo:
Ven. S Dhammika, Mihintale, http://www.buddhanet.net
Aryadasa Ratnasinghe, The arrival of Buddhism in Sri Lanka, http://www.lankalibrary.com
Wilhelm Geiger (translator), Mihintale: The cradle of Buddhism in Sri Lanka, http://www.lankalibrary.com



 
Design by Wordpress Theme | Bloggerized by Free Blogger Templates
Khi sử dụng tài liệu từ blog này, vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn tài liệu. Cảm ơn!